Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam chỉ có một "động cơ" duy nhất và xuyên suốt là đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ...

LTS: Tiến sĩ Trần Công Trục, một chuyên gia về Luật Biển Việt Nam và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài phân tích của ông xung quanh lập trường của Nga về Biển Đông qua bài bình luận "Nga chưa bao giờ thay đổi lập trường về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông" của Đại tá Lê Thế Mẫu đăng trên Báo điện tử Infonet ngày 13/6.

Tôn trọng những tiếng nói đa chiều ngõ hầu làm sáng tỏ không chỉ nội dung tranh luận làm sao bảo vệ tốt nhất độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, mà còn cả cách thức tranh luận và trao đổi sao cho đúng trọng tâm học thuật và không chính trị hóa các vấn đề pháp lý, làm sai lệch bản chất câu chuyện, Tòa soạn gửi tới bạn đọc bài viết này của Tiến sĩ Trần Công Trục.

Nội dung và văn phong bài viết thể hiện tiếng nói, quan điểm của tác giả. Tiêu đề bài viết do Ban Biên tập đặt.

Hiện nay dư luận đang chờ đợi phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) về vụ Philippines kiện Trung Quốc áp dụng và giải thích sai các quy định của UNCLOS 1982 ở Biển Đông.

Việt Nam là một bên liên quan trực tiếp và rất có lợi nếu PCA bác bỏ đường yêu sách “lưỡi bò” trên biển vô lý của Trung Quốc. Trong lúc đó thì cá nhân tôi cảm thấy ngỡ ngàng, bất ngờ khi đọc bài viết "Nga chưa bao giờ thay đổi lập trường về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông" của Đại tá Lê Thế Mẫu trên Infonet ngày 13/6.

Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.
Ngỡ ngàng không chỉ bởi những lập luận của Đại tá Lê Thế Mẫu về bài viết  "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông"  của tác giả Hồng Thủy đăng trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 11/6, mà bởi cách nhận xét, đánh giá theo phương cách quy kết, áp đặt một chiều, có vẻ phản ánh tư duy duy ý chí, chính trị hóa các vấn đề pháp lý.

Điều đó khiến cho dư luận có thể sẽ gặp những khó khăn trong tiếp cận và nhận thức bản chất của các vấn đề phức tạp và nhạy cảm hiện nay.

Trong khi đó, như mọi người đều đã biết, Trung Quốc đang đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền chống phá quyết liệt phán quyết của PCA hàng ngày, hàng giờ.

Vì vậy, chúng ta nên bình tĩnh lắng nghe và trân trọng những tiếng nói bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, cũng như luật pháp quốc tế mà tác giả Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã công khai thể hiện trong thời gian gần đây trước những bức xúc trong dư luận về một số động thái có liên quan đến tình hình Biển Đông.

Thiết nghĩ những bài báo đó hầu hết đều là những nội dung nghiên cứu nghiêm túc, khách quan, kịp thời và với động cơ tích cực, trong sáng và xuyên suốt là bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam với lập luận, luận cứ chắc chắn, mang tính xây dựng…. 

Với tư cách một công dân Việt Nam và từng có thời gian nghiên cứu Luật Biển Việt Nam, UNCLOS cũng như từng tham gia các hoạt động đàm phán phân định biên giới trên bộ cũng như trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng, cá nhân tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ của mình để làm sáng tỏ vấn đề, sau khi tác giả Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam  đã có phản hồi đối với bài viết của Đại tá Lê Thế Mẫu:

Về lập trường của Nga trong vấn đề Biển Đông

Tác giả Hồng Thủy đã phân tích khá kỹ "vấn đề Biển Đông" hiện nay đang tồn tại nhiều loại tranh chấp phức tạp, trong đó có những tranh chấp xuất phát từ việc giải thích và áp dụng sai các quy định của UNCLOS 1982 và những hành động phiêu lưu quân sự hóa Biển Đông mà Trung Quốc đang theo đuổi.

Tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ là một loại tranh chấp nổi bật, nhưng không phải tất cả các tranh chấp đang tồn tại trong Biển Đông.

Việc phân loại các tranh chấp này với diễn biến và đánh giá khác nhau sẽ có liên quan đến chủ trương và cách ứng xử của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc cũng như với các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế, đặc biệt là với các “siêu cường”. 

Mục đích, nội dung và lập luận của Hồng Thủy trong bài "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" cũng chỉ xoay quanh việc nhấn mạnh, làm rõ rằng:

Các tranh chấp hàng hải, tranh chấp về việc giải thích và áp dụng sai UNCLOS 1982, khiến dư luận quan tâm và có nhiều quan niệm lệch lạc, do vô tình hay cố ý, nhất là nhận thức về bản chất các tranh chấp này thành "tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ", trong đó có những tuyên bố gây tranh cãi từ Liên bang Nga gần đây.

Có thể thấy rằng đây là tình trạng "ông nói gà, bà nói vịt" khi PCA và dư luận quốc tế đang đấu tranh bảo vệ UNCLOS 1982, bảo vệ hòa bình, ổn định, tự do hàng hải và hàng không qua Biển Đông. Đây cũng chính là bảo vệ các quyền và lợi ích chung của khu vực và quốc tế.

Đại tá Lê Thế Mẫu, ảnh: Infonet.
Trong khi đó, để lẩn tránh nghĩa vụ của mình, Trung Quốc tìm mọi cách ngụy biện rằng đó là "tranh chấp chủ quyền" để lấy đó làm cớ "không tham gia, không chấp nhận phán quyết của PCA".

Đúng lúc đó Nga lại liên tục lên tiếng về "tranh chấp chủ quyền" ở Biển Đông, đặc biệt là việc chống quốc tế hóa, chống bên thứ ba can thiệp.

Đánh giá, nhận định những tuyên bố, phát biểu của Nga về các loại tranh chấp trong Biển Đông mà dư luận đang quan tâm, theo người viết, việc này nên được đặt trong bối cảnh chung rộng hơn.

Đó là, thời gian gần đây phải chăng vì những lý do về địa- chiến lược, địa- chính trị, địa-kinh tế …mà khu vực Biển Đông không còn là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Nga khiến Moscow không nắm rõ bản chất các tranh chấp?

Và phải chăng những thông tin Biển Đông mà phía Nga tiếp nhận gần đây không phản ánh đúng bản chất vấn đề, bị thiên lệch, chủ yếu là do phía Trung Quốc cố ý cung cấp thiếu khách quan?

Như mọi người đã biết, Trung Quốc không ngừng rêu rao rằng: Vấn đề tranh chấp trên Biển Đông hiện nay thực chất là "tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ", nhằm đánh lạc hướng dư luận quốc tế.

Không riêng Nga, ngay cả một số quốc gia ASEAN trực tiếp hay gián tiếp liên quan, cũng vẫn còn có những nhận thức lệch lạc về bản chất của các tranh chấp trong Biển Đông.

Những quốc gia này vẫn còn mơ hồ về các loại tranh chấp trong khi quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình bị xâm hại trực tiếp hay gián tiếp bởi những hoạt động của Trung Quốc đang diễn ra ngày càng trắng trợn ở bên trong đường “lưỡi bò”…

Do đó trách nhiệm giải thích cho các bạn Nga và bạn bè khu vực và quốc tế hiểu thực chất vấn đề Biển Đông hiện nay thuộc về chính chúng ta.

Tôi tin rằng những bài phân tích về lập trường của Nga trong quan hệ quốc tế nói chung, vấn đề Biển Đông nói riêng, sẽ thường xuyên được Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam cập nhật và báo cáo về nước, bởi đó là một trong những công việc và nhiệm vụ của họ.

Qua phân tích của Đại tá Lê Thế Mẫu và qua một số ý kiến, quan điểm của một số học giả, kế cả một số cán bộ làm công tác quản lý liên quan của Việt Nam mà tôi có may mắn được tiếp xúc, thì có thể nói rằng vẫn còn đánh giá khá mơ hồ, lẫn lộn khái niệm về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích của mình trong phán quyết của PCA có liên quan đến Việt Nam.

Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc Việt Nam sẽ ứng xử như thế nào trước việc Philippines kiện Trung Quốc để có thể bảo về các quyền và lợi ích hợp pháp của chúng ta và góp phần thượng tôn pháp luật, bảo vệ hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không quốc tế.

Đồng thời cũng là cách góp phần thực hiện một cách hiệu quả phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” với Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh đang ra sức tìm cách vận động lôi kéo, gây sức ép, mua chuộc và đang cố tình khai quật chính sách “cây gậy và cũ cà rốt” đã bị chôn vùi trong nấm mồ “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” để vận dụng cho kế hoạch của họ, thực hiện chiến lược độc chiếm Biển Đông.

Trong khi đó, chính trong nội bộ chúng ta, đội ngũ tham mưu và nghiên cứu vẫn còn những quan điểm mơ hồ về giải pháp pháp lý, lại còn vương vấn tư duy duy ý chí lỗi thời, chính trị hóa vấn đề pháp lý.

Có lẽ đây cũng chính là hiện tượng mà chúng ta không thể không suy ngẫm, nêu không muốn nói là đáng lo ngại trong bối cảnh hiện nay.

Tất nhiên không loại trừ khả năng Nga có những tính toán của riêng mình trong bối cảnh quốc tế hiện nay khi đưa ra những tuyên bố gây tranh cãi về Biển Đông.

Đặc biệt là cạnh tranh Nga- Mỹ ngày càng gay gắt, Nga chịu ảnh hưởng nặng nề từ lệnh trừng phạt của phương Tây vì cuộc khủng hoảng Ukraine, Syria và cần có tiếng nói, sự hỗ trợ từ phía Trung Quốc.

Đặt trong bối cảnh cụ thể ấy, chúng ta mới có thể trao đổi rõ ràng với các bạn Nga về lập trường nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, tránh những phát biểu và hành vi làm tổn hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông chỉ vì thiếu thông tin, thiếu trao đổi hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác.

Còn riêng vấn đề chủ quyền đối với các thực thể ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì Nga, Mỹ, Nhật, EU...đều đã nói rõ, họ trung lập, chúng ta không thể đòi hỏi gì hơn.

Lập luận của Đại tá Lê Thế Mẫu trong bình luận thứ (2), (3) của ông về phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga theo cá nhân tôi chỉ phản ánh suy nghĩ của cá nhân ông Mẫu.

Bởi lẽ từ khi ông Lavrov lên tiếng cho đến khi bà Maria Zakharova giải thích thêm, truyền thông quốc tế vẫn hiểu rằng dường như Moscow có xu hướng bênh vực Trung Quốc. Ông Mẫu nói:

"(2) Quan điểm của Nga về việc “các lực lượng thứ ba tham gia vào các cuộc tranh chấp này chỉ có thể khiến cho tình tình trong khu vực này căng thẳng thêm”.

Quan điểm của Nga phản ánh một thực tế là, từ trước tới nay, tất cả các cuộc đàm phán về DOC, hay COC, hay tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đều chỉ được tiến hành trong khuôn khổ song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác có tranh chấp, hoặc trong khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc."

Tôi cho rằng điều này không chính xác. DOC là thành quả của quá trình đàm phán và ký kết giữa ASEAN với Trung Quốc về ứng xử của các bên trên Biển Đông với tư cách một tập thể, không phải cá nhân riêng rẽ từng nước như Đại tá Lê Thế Mẫu nói.

Quá trình đàm phán COC cũng vậy. Không có chuyện "đàm phán song phương" giữa Việt Nam với Trung Quốc hay giữa các nước khác trong ASEAN với Trung Quốc.

Nói như vậy sẽ làm bạn bè quốc tế hiểu sai về chính chúng ta.

Đại tá Mẫu lập luận: "(3) Theo quan điểm của Nga,“các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông cần phải được giải quyết trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc không sử dụng sức mạnh, thông qua các giải pháp chính trị-ngoại giao, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, trước hết là UNCLOS, theo tinh thần của DOC.

Nga sẽ tiếp tục ủng hộ nỗ lực của Trung Quốc và các nước ASEAN xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)”. 

Quan điểm này của Matxcơva đã gián tiếp lên án Trung Quốc bởi hành động của Bắc Kinh xây cất, tôn tạo các bãi đá ở Trường Sa do họ chiếm đoạt của Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng DOC và UNCLOS.

Hơn nữa, khi Nga nói tới “luật pháp quốc tế” thì trong đó không loại trừ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế. Như vậy, quan điểm của Nga hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ASEAN, quan điểm của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế. 

Đương nhiên, xuất phát từ quan hệ Nga-Trung Quốc, Matxcơva chỉ yêu cầu “các bên tranh chấp tuân thủ DOC và UNCLOS”, mà không chỉ đích danh Trung Quốc.

Cũng tương tự như vậy, các nước khác như Mỹ, Nhật Bản, EU cũng chỉ yêu cầu “các bên kiềm chế”, “không thay đổi nguyên trạng” ở Biển Đông, chứ không chỉ đích danh Trung Quốc."

Lập luận này là ví dụ điển hình cho việc nhầm lẫn các khái niệm. Một là tranh chấp lãnh thổ thì không thể dựa vào UNCLOS, DOC hay COC để giải quyết, mà phải thông qua hệ thống luật pháp và án lệ quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ.

Hai là, "Quan điểm này của Matxcơva đã gián tiếp lên án Trung Quốc bởi hành động của Bắc Kinh xây cất, tôn tạo các bãi đá ở Trường Sa do họ chiếm đoạt của Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng DOC và UNCLOS" chưa chắc đã phải Nga nói Trung Quốc như Đại tá Mẫu nghĩ.

Bởi Nga cũng có thể ám chỉ Hoa Kỳ lắm chứ? Chẳng phải Trung Quốc đang hoặc công khai lộ liễu, hoặc ám chỉ Hoa Kỳ "quân sự hóa Biển Đông" thông qua các hoạt động duy trì tự do hàng hải, hàng không và hiện diện của hải quân Mỹ ở Biển Đông đó sao? Nhưng điều đó chưa phải vấn đề lớn.

Cách giải thích của ông Mẫu rằng: "Hơn nữa, khi Nga nói tới “luật pháp quốc tế” thì trong đó không loại trừ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế. Như vậy, quan điểm của Nga hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ASEAN, quan điểm của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế" một lần nữa nhầm lẫn về khái niệm.

"Luật pháp quốc tế" theo cách hiểu của Nga chưa chắc đã là "luật pháp quốc tế" theo cách hiểu của ASEAN, Việt Nam hay Hoa Kỳ.

Trung Quốc cũng đang dùng "luật pháp quốc tế" theo cách hiểu bóp méo của họ để chống lại luật pháp quốc tế thực chất và phổ quát đó thôi.

Ví dụ, PCA xét xử 7/15 nội dung Philippines khởi kiện liên quan đến áp dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS 1982 theo đúng tinh thần, quy định, trình tự, thủ tục trong Phụ lục VII, UNCLOS 1982 thì Trung Quốc có nghĩa vụ phải chấp hành với tư cách một thành viên UNCLOS 1982, cho dù muốn hay không. 

Nhưng họ vẫn cứ ra rả rằng "luật pháp quốc tế" không chấp nhận giải quyết "tranh chấp chủ quyền" / "tranh chấp lãnh thổ" thông qua cơ quan tài phán. Nói nôm na, người ta hỏi "anh ăn cơm chưa" thì Trung Quốc lại trả lời "tôi đi tắm rồi". Bắc Kinh nhắc đi nhắc lại câu trả lời không ăn nhập và liên quan gì đến câu hỏi.

Không chính trị hóa các vấn đề pháp lý

Cá nhân người viết cảm thấy bất ngờ khi Đại tá Lê Thế Mẫu không tập trung làm rõ hay phản biện những lập luận của tác giả Hồng Thủy xung quanh việc nhầm lẫn hoặc đánh tráo khái niệm giữa "các tranh chấp ở Biển Đông" thành "tranh chấp chủ quyền" / "tranh chấp lãnh thổ" ở Biển Đông, nhầm lẫn giữa tranh chấp hàng hải, tranh chấp ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS ở Biển Đông với "tranh chấp lãnh thổ" / "tranh chấp chủ quyền" mà lại đi "truy tìm động cơ".

Đây chính là vấn đề Hồng Thủy đặt ra đối với các bạn Nga, vừa là phân tích để phía Nga cũng như dư luận quan tâm hiểu và phân biệt rạch ròi các loại tranh chấp này, từ đó mới có nhận thức và phản ứng phù hợp với phán quyết của PCA cũng như bảo vệ, củng cố lòng tin chiến lược và quan hệ hợp tác song phương.

Đại tá Lê Thế Mẫu không làm điều này, mà ông vẫn tiếp tục đi theo tư duy nhầm lẫn các khái niệm, gây tranh cãi của phía Nga, cũng như tư duy ngụy biện Trung Quốc đang theo đuổi. Hơn thế nữa, vị Đại tá Lê Thế Mẫu lại “đấu tố” Hồng Thủy rằng:

"Đây là nhận định có tính chất xuyên tạc quan điểm của Bộ Ngoại giao Nga, gây hoang mang trong dư luận và làm tổn hại đối với quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga mà vừa qua trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga Thủ tướng nước ta Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định:

“Cá nhân tôi, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng tuyệt đối vào nước bạn Nga”.

Và: "Thật khó giải thích về động cơ của những ai, không biết vì lý do gì, lại cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm của Nga về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, gây hoang mang trong dư luận, làm tổn hại tới quan hệ giữa hai nước trong bối cảnh chúng ta đang tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng".

Là người theo dõi thường xuyên các bài viết của tác giả Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, cũng như thường xuyên cộng tác, trao đổi cùng với Báo, tôi nhận thấy rằng Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam chỉ có một "động cơ" duy nhất và xuyên suốt là đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông.

Trong quan hệ quốc tế, Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam thường xuyên đấu tranh với những quan điểm sai trái gây tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.

Đồng thời tác giả và tòa soạn cũng góp phần củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, trong đó có bạn bè truyền thống hay đối tác chiến lược toàn diện như Nga và Trung Quốc, trên tinh thần thực sự khách quan, cầu thị và căn cứ trên luật pháp quốc tế hiện đại, thể hiện đúng tinh thần chừng mực, vừa hợp tác vừa đấu tranh.

Tuyệt đối không có chuyện Hồng Thủy hay Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam "chống phá quan hệ Việt - Nga" hay "chống phá quan hệ Việt - Trung".

Lúc này guồng máy truyền thông nhà nước Trung Quốc, các Đại sứ Trung Quốc ở nước ngoài liên tục có bài chống phá phán quyết của PCA, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam hàng ngày hàng giờ.

Thiết nghĩ những tiếng nói kịp thời, hợp lý hợp tình và hợp pháp như nhà báo Hồng Thủy, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam thể hiện là rất cần thiết, mặc dù thực tế chúng ta cần làm nhiều hơn thế, cần nhiều chuyên gia và nhiều cơ quan truyền thông nắm chắc luật pháp quốc tế lên tiếng hơn nữa.

Vì vậy mặc dù Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã có bài viết trao đổi lại về những lập luận của ông Lê Thế Mẫu xung quanh các nội dung học thuật và pháp lý, nhưng cá nhân người viết cảm thấy cần phải có thêm tiếng nói.

Người viết hy vọng cách thức trao đổi, đối thoại các vấn đề học thuật trong chính cộng đồng người Việt Nam chúng ta diễn ra sao cho đúng trọng tâm, đạt mục đích bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc và thượng tôn pháp luật, trên tinh thần khách quan, cầu thị, sòng phẳng và đặc biệt là không chụp mũ, không chính trị hóa các vấn đề học thuật, không áp đặt quan điểm cá nhân lên người khác, không "độc quyền chân lý".

Bởi lẽ về cả đối nội cũng như đối ngoại, tư duy chính trị hóa các vấn đề pháp lý, lập trường hóa, hình sự hóa các vấn đề học thuật, nâng cao quan điểm, suy diễn và quy chụp có thể gây ra những tác động tai hại đến nhận thức và hành vi, thậm chí có thể tạo ra bạo loạn xã hội như chúng ta đã thấy trong lịch sử cận hiện đại.

Vì vậy, trong tình hình hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần thật sự bình tĩnh lắng nghe, học tập lẫn nhau, tránh hiện tượng “đấu tố”,  cố tình sử dụng, trích dẫn các phát biểu của các vị lãnh đạo để răn đe các ý kiến khác với quan điểm của mình phục vụ cho động cơ riêng.

Thiết nghĩ điều đó có lẽ không chỉ là một sự xúc phạm đối với cá nhân tác giả và tòa soạn mà còn là một gáo nước lạnh dội lên lòng yêu nước, làm tổn thương nhiều người muốn nỗ lực bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, xúc phạm các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam./.

Lời Tòa soạn: Liên quan đến loạt bài viết của Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam được ông Lê Thế Mẫu trích dẫn đăng trên Báo điện tử Infonet, Tòa soạn có quan điểm như sau:

Khi thực hiện các bài viết này, chúng tôi mong muốn góp tiếng nói nhằm thống nhất nhận thức, quan điểm trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích hợp pháp của Tổ quốc Việt Nam mà cha ông đã đổ bao xương máu để gầy dựng và bảo vệ.

Các căn cứ, lập luận nêu ra đều có căn cứ khoa học, dựa trên chuẩn mực, quy định, định chế pháp luật quốc tế cũng như chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Việt Nam.

Ban Biên tập Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam khẳng định luôn bám sát và tuân thủ lập trường đối ngoại của Đảng, Nhà nước rằng Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới; không liên minh, liên kết với bất cứ bên nào để chống lại một bên cụ thể; lập trường ngoại giao hòa bình, thân thiện, tranh thủ sự ủng hộ và đôi bên cùng có lợi...

Việc làm rõ quan điểm của Nga về Biển Đông không phải là chống lại Nga mà là để nhận thức rõ ràng rằng, đây là cuộc đấu tranh pháp lý chống lại đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông đang đe dọa quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các nước trong khu vực.

Trong phạm vi bài viết của chúng tôi được ông Lê Thế Mẫu Trích dẫn hoàn toàn không bàn về khía cạnh tranh chấp lãnh thổ, mà nhấn mạnh và làm rõ các tranh chấp hàng hải, ứng dụng và giải thích UNCLOS 1982, trọng tâm vụ kiện của Philippines.

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam cho rằng, nhận xét của ông Lê Thế Mẫu là quy chụp, thiếu khách quan, một chiều, là “gắp lửa bỏ tay người” gây hiệu ứng xấu, trực tiếp làm ảnh hưởng tiêu cực đến lòng yêu nước của người Việt Nam.

Cho đến thời điểm này, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam chưa nhận được bất kỳ trao đổi nào của ông Mẫu cũng như của Báo điện tử Infonet về sự việc.

Trên bình diện nhận thức và góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, luật pháp và công lý quốc tế cũng như quan hệ hữu nghị Nga-Việt nói riêng, chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam sẵn sàng mở bàn tròn thảo luận với sự tham gia của Bộ Ngoại giao; các cơ quan quản lý báo chí; các chuyên gia, nhà khoa học, ông Lê Thế Mẫu về các vấn đề này.

Nội dung và tinh thần trao đổi được nhấn mạnh là khoa học, tử tế, nghiêm túc và cầu thị.

Ts Trần Công Trục

(Giáo Dục)
16:35 Unknown
Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam chỉ có một "động cơ" duy nhất và xuyên suốt là đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ...

LTS: Tiến sĩ Trần Công Trục, một chuyên gia về Luật Biển Việt Nam và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài phân tích của ông xung quanh lập trường của Nga về Biển Đông qua bài bình luận "Nga chưa bao giờ thay đổi lập trường về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông" của Đại tá Lê Thế Mẫu đăng trên Báo điện tử Infonet ngày 13/6.

Tôn trọng những tiếng nói đa chiều ngõ hầu làm sáng tỏ không chỉ nội dung tranh luận làm sao bảo vệ tốt nhất độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, mà còn cả cách thức tranh luận và trao đổi sao cho đúng trọng tâm học thuật và không chính trị hóa các vấn đề pháp lý, làm sai lệch bản chất câu chuyện, Tòa soạn gửi tới bạn đọc bài viết này của Tiến sĩ Trần Công Trục.

Nội dung và văn phong bài viết thể hiện tiếng nói, quan điểm của tác giả. Tiêu đề bài viết do Ban Biên tập đặt.

Hiện nay dư luận đang chờ đợi phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) về vụ Philippines kiện Trung Quốc áp dụng và giải thích sai các quy định của UNCLOS 1982 ở Biển Đông.

Việt Nam là một bên liên quan trực tiếp và rất có lợi nếu PCA bác bỏ đường yêu sách “lưỡi bò” trên biển vô lý của Trung Quốc. Trong lúc đó thì cá nhân tôi cảm thấy ngỡ ngàng, bất ngờ khi đọc bài viết "Nga chưa bao giờ thay đổi lập trường về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông" của Đại tá Lê Thế Mẫu trên Infonet ngày 13/6.

Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.
Ngỡ ngàng không chỉ bởi những lập luận của Đại tá Lê Thế Mẫu về bài viết  "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông"  của tác giả Hồng Thủy đăng trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 11/6, mà bởi cách nhận xét, đánh giá theo phương cách quy kết, áp đặt một chiều, có vẻ phản ánh tư duy duy ý chí, chính trị hóa các vấn đề pháp lý.

Điều đó khiến cho dư luận có thể sẽ gặp những khó khăn trong tiếp cận và nhận thức bản chất của các vấn đề phức tạp và nhạy cảm hiện nay.

Trong khi đó, như mọi người đều đã biết, Trung Quốc đang đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền chống phá quyết liệt phán quyết của PCA hàng ngày, hàng giờ.

Vì vậy, chúng ta nên bình tĩnh lắng nghe và trân trọng những tiếng nói bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, cũng như luật pháp quốc tế mà tác giả Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã công khai thể hiện trong thời gian gần đây trước những bức xúc trong dư luận về một số động thái có liên quan đến tình hình Biển Đông.

Thiết nghĩ những bài báo đó hầu hết đều là những nội dung nghiên cứu nghiêm túc, khách quan, kịp thời và với động cơ tích cực, trong sáng và xuyên suốt là bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam với lập luận, luận cứ chắc chắn, mang tính xây dựng…. 

Với tư cách một công dân Việt Nam và từng có thời gian nghiên cứu Luật Biển Việt Nam, UNCLOS cũng như từng tham gia các hoạt động đàm phán phân định biên giới trên bộ cũng như trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng, cá nhân tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ của mình để làm sáng tỏ vấn đề, sau khi tác giả Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam  đã có phản hồi đối với bài viết của Đại tá Lê Thế Mẫu:

Về lập trường của Nga trong vấn đề Biển Đông

Tác giả Hồng Thủy đã phân tích khá kỹ "vấn đề Biển Đông" hiện nay đang tồn tại nhiều loại tranh chấp phức tạp, trong đó có những tranh chấp xuất phát từ việc giải thích và áp dụng sai các quy định của UNCLOS 1982 và những hành động phiêu lưu quân sự hóa Biển Đông mà Trung Quốc đang theo đuổi.

Tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ là một loại tranh chấp nổi bật, nhưng không phải tất cả các tranh chấp đang tồn tại trong Biển Đông.

Việc phân loại các tranh chấp này với diễn biến và đánh giá khác nhau sẽ có liên quan đến chủ trương và cách ứng xử của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc cũng như với các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế, đặc biệt là với các “siêu cường”. 

Mục đích, nội dung và lập luận của Hồng Thủy trong bài "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" cũng chỉ xoay quanh việc nhấn mạnh, làm rõ rằng:

Các tranh chấp hàng hải, tranh chấp về việc giải thích và áp dụng sai UNCLOS 1982, khiến dư luận quan tâm và có nhiều quan niệm lệch lạc, do vô tình hay cố ý, nhất là nhận thức về bản chất các tranh chấp này thành "tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ", trong đó có những tuyên bố gây tranh cãi từ Liên bang Nga gần đây.

Có thể thấy rằng đây là tình trạng "ông nói gà, bà nói vịt" khi PCA và dư luận quốc tế đang đấu tranh bảo vệ UNCLOS 1982, bảo vệ hòa bình, ổn định, tự do hàng hải và hàng không qua Biển Đông. Đây cũng chính là bảo vệ các quyền và lợi ích chung của khu vực và quốc tế.

Đại tá Lê Thế Mẫu, ảnh: Infonet.
Trong khi đó, để lẩn tránh nghĩa vụ của mình, Trung Quốc tìm mọi cách ngụy biện rằng đó là "tranh chấp chủ quyền" để lấy đó làm cớ "không tham gia, không chấp nhận phán quyết của PCA".

Đúng lúc đó Nga lại liên tục lên tiếng về "tranh chấp chủ quyền" ở Biển Đông, đặc biệt là việc chống quốc tế hóa, chống bên thứ ba can thiệp.

Đánh giá, nhận định những tuyên bố, phát biểu của Nga về các loại tranh chấp trong Biển Đông mà dư luận đang quan tâm, theo người viết, việc này nên được đặt trong bối cảnh chung rộng hơn.

Đó là, thời gian gần đây phải chăng vì những lý do về địa- chiến lược, địa- chính trị, địa-kinh tế …mà khu vực Biển Đông không còn là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Nga khiến Moscow không nắm rõ bản chất các tranh chấp?

Và phải chăng những thông tin Biển Đông mà phía Nga tiếp nhận gần đây không phản ánh đúng bản chất vấn đề, bị thiên lệch, chủ yếu là do phía Trung Quốc cố ý cung cấp thiếu khách quan?

Như mọi người đã biết, Trung Quốc không ngừng rêu rao rằng: Vấn đề tranh chấp trên Biển Đông hiện nay thực chất là "tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ", nhằm đánh lạc hướng dư luận quốc tế.

Không riêng Nga, ngay cả một số quốc gia ASEAN trực tiếp hay gián tiếp liên quan, cũng vẫn còn có những nhận thức lệch lạc về bản chất của các tranh chấp trong Biển Đông.

Những quốc gia này vẫn còn mơ hồ về các loại tranh chấp trong khi quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình bị xâm hại trực tiếp hay gián tiếp bởi những hoạt động của Trung Quốc đang diễn ra ngày càng trắng trợn ở bên trong đường “lưỡi bò”…

Do đó trách nhiệm giải thích cho các bạn Nga và bạn bè khu vực và quốc tế hiểu thực chất vấn đề Biển Đông hiện nay thuộc về chính chúng ta.

Tôi tin rằng những bài phân tích về lập trường của Nga trong quan hệ quốc tế nói chung, vấn đề Biển Đông nói riêng, sẽ thường xuyên được Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam cập nhật và báo cáo về nước, bởi đó là một trong những công việc và nhiệm vụ của họ.

Qua phân tích của Đại tá Lê Thế Mẫu và qua một số ý kiến, quan điểm của một số học giả, kế cả một số cán bộ làm công tác quản lý liên quan của Việt Nam mà tôi có may mắn được tiếp xúc, thì có thể nói rằng vẫn còn đánh giá khá mơ hồ, lẫn lộn khái niệm về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích của mình trong phán quyết của PCA có liên quan đến Việt Nam.

Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc Việt Nam sẽ ứng xử như thế nào trước việc Philippines kiện Trung Quốc để có thể bảo về các quyền và lợi ích hợp pháp của chúng ta và góp phần thượng tôn pháp luật, bảo vệ hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không quốc tế.

Đồng thời cũng là cách góp phần thực hiện một cách hiệu quả phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” với Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh đang ra sức tìm cách vận động lôi kéo, gây sức ép, mua chuộc và đang cố tình khai quật chính sách “cây gậy và cũ cà rốt” đã bị chôn vùi trong nấm mồ “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” để vận dụng cho kế hoạch của họ, thực hiện chiến lược độc chiếm Biển Đông.

Trong khi đó, chính trong nội bộ chúng ta, đội ngũ tham mưu và nghiên cứu vẫn còn những quan điểm mơ hồ về giải pháp pháp lý, lại còn vương vấn tư duy duy ý chí lỗi thời, chính trị hóa vấn đề pháp lý.

Có lẽ đây cũng chính là hiện tượng mà chúng ta không thể không suy ngẫm, nêu không muốn nói là đáng lo ngại trong bối cảnh hiện nay.

Tất nhiên không loại trừ khả năng Nga có những tính toán của riêng mình trong bối cảnh quốc tế hiện nay khi đưa ra những tuyên bố gây tranh cãi về Biển Đông.

Đặc biệt là cạnh tranh Nga- Mỹ ngày càng gay gắt, Nga chịu ảnh hưởng nặng nề từ lệnh trừng phạt của phương Tây vì cuộc khủng hoảng Ukraine, Syria và cần có tiếng nói, sự hỗ trợ từ phía Trung Quốc.

Đặt trong bối cảnh cụ thể ấy, chúng ta mới có thể trao đổi rõ ràng với các bạn Nga về lập trường nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, tránh những phát biểu và hành vi làm tổn hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông chỉ vì thiếu thông tin, thiếu trao đổi hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác.

Còn riêng vấn đề chủ quyền đối với các thực thể ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì Nga, Mỹ, Nhật, EU...đều đã nói rõ, họ trung lập, chúng ta không thể đòi hỏi gì hơn.

Lập luận của Đại tá Lê Thế Mẫu trong bình luận thứ (2), (3) của ông về phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga theo cá nhân tôi chỉ phản ánh suy nghĩ của cá nhân ông Mẫu.

Bởi lẽ từ khi ông Lavrov lên tiếng cho đến khi bà Maria Zakharova giải thích thêm, truyền thông quốc tế vẫn hiểu rằng dường như Moscow có xu hướng bênh vực Trung Quốc. Ông Mẫu nói:

"(2) Quan điểm của Nga về việc “các lực lượng thứ ba tham gia vào các cuộc tranh chấp này chỉ có thể khiến cho tình tình trong khu vực này căng thẳng thêm”.

Quan điểm của Nga phản ánh một thực tế là, từ trước tới nay, tất cả các cuộc đàm phán về DOC, hay COC, hay tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đều chỉ được tiến hành trong khuôn khổ song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác có tranh chấp, hoặc trong khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc."

Tôi cho rằng điều này không chính xác. DOC là thành quả của quá trình đàm phán và ký kết giữa ASEAN với Trung Quốc về ứng xử của các bên trên Biển Đông với tư cách một tập thể, không phải cá nhân riêng rẽ từng nước như Đại tá Lê Thế Mẫu nói.

Quá trình đàm phán COC cũng vậy. Không có chuyện "đàm phán song phương" giữa Việt Nam với Trung Quốc hay giữa các nước khác trong ASEAN với Trung Quốc.

Nói như vậy sẽ làm bạn bè quốc tế hiểu sai về chính chúng ta.

Đại tá Mẫu lập luận: "(3) Theo quan điểm của Nga,“các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông cần phải được giải quyết trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc không sử dụng sức mạnh, thông qua các giải pháp chính trị-ngoại giao, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, trước hết là UNCLOS, theo tinh thần của DOC.

Nga sẽ tiếp tục ủng hộ nỗ lực của Trung Quốc và các nước ASEAN xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)”. 

Quan điểm này của Matxcơva đã gián tiếp lên án Trung Quốc bởi hành động của Bắc Kinh xây cất, tôn tạo các bãi đá ở Trường Sa do họ chiếm đoạt của Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng DOC và UNCLOS.

Hơn nữa, khi Nga nói tới “luật pháp quốc tế” thì trong đó không loại trừ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế. Như vậy, quan điểm của Nga hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ASEAN, quan điểm của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế. 

Đương nhiên, xuất phát từ quan hệ Nga-Trung Quốc, Matxcơva chỉ yêu cầu “các bên tranh chấp tuân thủ DOC và UNCLOS”, mà không chỉ đích danh Trung Quốc.

Cũng tương tự như vậy, các nước khác như Mỹ, Nhật Bản, EU cũng chỉ yêu cầu “các bên kiềm chế”, “không thay đổi nguyên trạng” ở Biển Đông, chứ không chỉ đích danh Trung Quốc."

Lập luận này là ví dụ điển hình cho việc nhầm lẫn các khái niệm. Một là tranh chấp lãnh thổ thì không thể dựa vào UNCLOS, DOC hay COC để giải quyết, mà phải thông qua hệ thống luật pháp và án lệ quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ.

Hai là, "Quan điểm này của Matxcơva đã gián tiếp lên án Trung Quốc bởi hành động của Bắc Kinh xây cất, tôn tạo các bãi đá ở Trường Sa do họ chiếm đoạt của Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng DOC và UNCLOS" chưa chắc đã phải Nga nói Trung Quốc như Đại tá Mẫu nghĩ.

Bởi Nga cũng có thể ám chỉ Hoa Kỳ lắm chứ? Chẳng phải Trung Quốc đang hoặc công khai lộ liễu, hoặc ám chỉ Hoa Kỳ "quân sự hóa Biển Đông" thông qua các hoạt động duy trì tự do hàng hải, hàng không và hiện diện của hải quân Mỹ ở Biển Đông đó sao? Nhưng điều đó chưa phải vấn đề lớn.

Cách giải thích của ông Mẫu rằng: "Hơn nữa, khi Nga nói tới “luật pháp quốc tế” thì trong đó không loại trừ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế. Như vậy, quan điểm của Nga hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ASEAN, quan điểm của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế" một lần nữa nhầm lẫn về khái niệm.

"Luật pháp quốc tế" theo cách hiểu của Nga chưa chắc đã là "luật pháp quốc tế" theo cách hiểu của ASEAN, Việt Nam hay Hoa Kỳ.

Trung Quốc cũng đang dùng "luật pháp quốc tế" theo cách hiểu bóp méo của họ để chống lại luật pháp quốc tế thực chất và phổ quát đó thôi.

Ví dụ, PCA xét xử 7/15 nội dung Philippines khởi kiện liên quan đến áp dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS 1982 theo đúng tinh thần, quy định, trình tự, thủ tục trong Phụ lục VII, UNCLOS 1982 thì Trung Quốc có nghĩa vụ phải chấp hành với tư cách một thành viên UNCLOS 1982, cho dù muốn hay không. 

Nhưng họ vẫn cứ ra rả rằng "luật pháp quốc tế" không chấp nhận giải quyết "tranh chấp chủ quyền" / "tranh chấp lãnh thổ" thông qua cơ quan tài phán. Nói nôm na, người ta hỏi "anh ăn cơm chưa" thì Trung Quốc lại trả lời "tôi đi tắm rồi". Bắc Kinh nhắc đi nhắc lại câu trả lời không ăn nhập và liên quan gì đến câu hỏi.

Không chính trị hóa các vấn đề pháp lý

Cá nhân người viết cảm thấy bất ngờ khi Đại tá Lê Thế Mẫu không tập trung làm rõ hay phản biện những lập luận của tác giả Hồng Thủy xung quanh việc nhầm lẫn hoặc đánh tráo khái niệm giữa "các tranh chấp ở Biển Đông" thành "tranh chấp chủ quyền" / "tranh chấp lãnh thổ" ở Biển Đông, nhầm lẫn giữa tranh chấp hàng hải, tranh chấp ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS ở Biển Đông với "tranh chấp lãnh thổ" / "tranh chấp chủ quyền" mà lại đi "truy tìm động cơ".

Đây chính là vấn đề Hồng Thủy đặt ra đối với các bạn Nga, vừa là phân tích để phía Nga cũng như dư luận quan tâm hiểu và phân biệt rạch ròi các loại tranh chấp này, từ đó mới có nhận thức và phản ứng phù hợp với phán quyết của PCA cũng như bảo vệ, củng cố lòng tin chiến lược và quan hệ hợp tác song phương.

Đại tá Lê Thế Mẫu không làm điều này, mà ông vẫn tiếp tục đi theo tư duy nhầm lẫn các khái niệm, gây tranh cãi của phía Nga, cũng như tư duy ngụy biện Trung Quốc đang theo đuổi. Hơn thế nữa, vị Đại tá Lê Thế Mẫu lại “đấu tố” Hồng Thủy rằng:

"Đây là nhận định có tính chất xuyên tạc quan điểm của Bộ Ngoại giao Nga, gây hoang mang trong dư luận và làm tổn hại đối với quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga mà vừa qua trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga Thủ tướng nước ta Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định:

“Cá nhân tôi, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng tuyệt đối vào nước bạn Nga”.

Và: "Thật khó giải thích về động cơ của những ai, không biết vì lý do gì, lại cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm của Nga về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, gây hoang mang trong dư luận, làm tổn hại tới quan hệ giữa hai nước trong bối cảnh chúng ta đang tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng".

Là người theo dõi thường xuyên các bài viết của tác giả Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, cũng như thường xuyên cộng tác, trao đổi cùng với Báo, tôi nhận thấy rằng Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam chỉ có một "động cơ" duy nhất và xuyên suốt là đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông.

Trong quan hệ quốc tế, Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam thường xuyên đấu tranh với những quan điểm sai trái gây tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.

Đồng thời tác giả và tòa soạn cũng góp phần củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, trong đó có bạn bè truyền thống hay đối tác chiến lược toàn diện như Nga và Trung Quốc, trên tinh thần thực sự khách quan, cầu thị và căn cứ trên luật pháp quốc tế hiện đại, thể hiện đúng tinh thần chừng mực, vừa hợp tác vừa đấu tranh.

Tuyệt đối không có chuyện Hồng Thủy hay Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam "chống phá quan hệ Việt - Nga" hay "chống phá quan hệ Việt - Trung".

Lúc này guồng máy truyền thông nhà nước Trung Quốc, các Đại sứ Trung Quốc ở nước ngoài liên tục có bài chống phá phán quyết của PCA, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam hàng ngày hàng giờ.

Thiết nghĩ những tiếng nói kịp thời, hợp lý hợp tình và hợp pháp như nhà báo Hồng Thủy, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam thể hiện là rất cần thiết, mặc dù thực tế chúng ta cần làm nhiều hơn thế, cần nhiều chuyên gia và nhiều cơ quan truyền thông nắm chắc luật pháp quốc tế lên tiếng hơn nữa.

Vì vậy mặc dù Hồng Thủy và Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã có bài viết trao đổi lại về những lập luận của ông Lê Thế Mẫu xung quanh các nội dung học thuật và pháp lý, nhưng cá nhân người viết cảm thấy cần phải có thêm tiếng nói.

Người viết hy vọng cách thức trao đổi, đối thoại các vấn đề học thuật trong chính cộng đồng người Việt Nam chúng ta diễn ra sao cho đúng trọng tâm, đạt mục đích bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc và thượng tôn pháp luật, trên tinh thần khách quan, cầu thị, sòng phẳng và đặc biệt là không chụp mũ, không chính trị hóa các vấn đề học thuật, không áp đặt quan điểm cá nhân lên người khác, không "độc quyền chân lý".

Bởi lẽ về cả đối nội cũng như đối ngoại, tư duy chính trị hóa các vấn đề pháp lý, lập trường hóa, hình sự hóa các vấn đề học thuật, nâng cao quan điểm, suy diễn và quy chụp có thể gây ra những tác động tai hại đến nhận thức và hành vi, thậm chí có thể tạo ra bạo loạn xã hội như chúng ta đã thấy trong lịch sử cận hiện đại.

Vì vậy, trong tình hình hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần thật sự bình tĩnh lắng nghe, học tập lẫn nhau, tránh hiện tượng “đấu tố”,  cố tình sử dụng, trích dẫn các phát biểu của các vị lãnh đạo để răn đe các ý kiến khác với quan điểm của mình phục vụ cho động cơ riêng.

Thiết nghĩ điều đó có lẽ không chỉ là một sự xúc phạm đối với cá nhân tác giả và tòa soạn mà còn là một gáo nước lạnh dội lên lòng yêu nước, làm tổn thương nhiều người muốn nỗ lực bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, xúc phạm các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam./.

Lời Tòa soạn: Liên quan đến loạt bài viết của Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam được ông Lê Thế Mẫu trích dẫn đăng trên Báo điện tử Infonet, Tòa soạn có quan điểm như sau:

Khi thực hiện các bài viết này, chúng tôi mong muốn góp tiếng nói nhằm thống nhất nhận thức, quan điểm trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích hợp pháp của Tổ quốc Việt Nam mà cha ông đã đổ bao xương máu để gầy dựng và bảo vệ.

Các căn cứ, lập luận nêu ra đều có căn cứ khoa học, dựa trên chuẩn mực, quy định, định chế pháp luật quốc tế cũng như chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Việt Nam.

Ban Biên tập Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam khẳng định luôn bám sát và tuân thủ lập trường đối ngoại của Đảng, Nhà nước rằng Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới; không liên minh, liên kết với bất cứ bên nào để chống lại một bên cụ thể; lập trường ngoại giao hòa bình, thân thiện, tranh thủ sự ủng hộ và đôi bên cùng có lợi...

Việc làm rõ quan điểm của Nga về Biển Đông không phải là chống lại Nga mà là để nhận thức rõ ràng rằng, đây là cuộc đấu tranh pháp lý chống lại đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông đang đe dọa quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các nước trong khu vực.

Trong phạm vi bài viết của chúng tôi được ông Lê Thế Mẫu Trích dẫn hoàn toàn không bàn về khía cạnh tranh chấp lãnh thổ, mà nhấn mạnh và làm rõ các tranh chấp hàng hải, ứng dụng và giải thích UNCLOS 1982, trọng tâm vụ kiện của Philippines.

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam cho rằng, nhận xét của ông Lê Thế Mẫu là quy chụp, thiếu khách quan, một chiều, là “gắp lửa bỏ tay người” gây hiệu ứng xấu, trực tiếp làm ảnh hưởng tiêu cực đến lòng yêu nước của người Việt Nam.

Cho đến thời điểm này, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam chưa nhận được bất kỳ trao đổi nào của ông Mẫu cũng như của Báo điện tử Infonet về sự việc.

Trên bình diện nhận thức và góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, luật pháp và công lý quốc tế cũng như quan hệ hữu nghị Nga-Việt nói riêng, chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam sẵn sàng mở bàn tròn thảo luận với sự tham gia của Bộ Ngoại giao; các cơ quan quản lý báo chí; các chuyên gia, nhà khoa học, ông Lê Thế Mẫu về các vấn đề này.

Nội dung và tinh thần trao đổi được nhấn mạnh là khoa học, tử tế, nghiêm túc và cầu thị.

Ts Trần Công Trục

(Giáo Dục)
Trung Quốc quyết tâm theo đuổi tham vọng và lợi ích chiến lược ở Biển Đông, nên thách thức lớn nhất đối với Mỹ là tập hợp được sự ủng hộ của khu vực và triển khai các thiết bị quân sự để chống lại chủ nghĩa phiêu lưu của Bắc Kinh

20110611_asd000.jpg

 Trung Quốc còn lâu mới trở thành một cường quốc có sức mạnh tổng hợp. Sự phát triển thần tốc liên tục trong nhiều năm qua đã tạo cho nước này cả lực hội nhập hướng tâm và lực phân mảnh ly tâm. Đầu năm nay, Bắc Kinh đã thực hiện thành công một chiêu bài chiến lược lớn chống lại Mỹ khi đã khôn ngoan thuyết phục được gần như các nền kinh tế có liên quan ở châu Á và phương Tây tham gia Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) do nước này sáng lập, bất chấp sự phản đối kịch liệt của Washington. Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã phải chấp nhận "quả đắng" khi chứng kiến Bắc Kinh từng bước thách thức vị trí kiến tạo trật tự tài chính toàn cầu vốn xưa nay luôn nằm trong tay Washington. Hầu hết các nước, xuất phát từ quan điểm thực dụng trước túi tiền của Trung Quốc, đều thận trọng hoan nghênh sáng kiến AIIB khi đây được coi là phương thuốc thần kỳ - dù chưa đủ- cho việc đáp ứng các nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng trong khu vực. Nhưng bên cạnh việc thu hút các nước cùng tham gia AIIB, Trung Quốc cũng đang trở thành một quốc gia gây phân cực khi khuấy động các tranh chấp biển dai dẳng lâu nay ở khu vực Tây Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh đó, Đối thoại Shangri-La lần thứ 15 là cơ hội tốt để Mỹ và các đồng minh chuyển thế tấn công Trung Quốc về những hoạt động xây dựng ồ ạt và tăng cường hiện diện quân sự của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, những quốc gia không liên quan trực tiếp tới các tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông, trong đó có Singapore với vai trò chủ nhà hội nghị, đã lưỡng lự bày tỏ quan ngại sâu sắc về những tranh chấp biển. Với một vài dấu hiệu thỏa hiệp nhỏ và việc các giới chức quân sự Trung Quốc công khai ý đồ sẽ thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông nếu nhận thấy các mối đe dọa đi quá giới hạn, Mỹ và các đồng minh đang phải tính toán cách thức phản ứng phù hợp trước những hành động khiêu khích hơn nữa từ phía Trung Quốc.

Cuộc đấu giữa những người khổng lồ

Đối thoại Shangri-La rõ ràng đã trở thành một diễn đàn ngoại giao quốc tế đối với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, người đã có bài phát biểu rất được trông đợi sau chiến dịch kéo dài hàng tháng của Lầu Năm Góc lên án các hoạt động xây dựng của Bắc Kinh. Bằng việc triển khai các máy bay do thám (có đội ngũ phóng viên đi kèm) và các tàu chiến tới gần các thực thể xây dựng nhân tạo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, Hải quân Mỹ đã công khai thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với những thực thể này. Hải quân Mỹ cũng trực tiếp lên án Trung Quốc về việc quân sự hóa các vùng biển tranh chấp, với những báo cáo về việc Bắc Kinh cho triển khai các dàn pháo cơ giới và hệ thống phòng thủ tới Biển Đông.

Rõ ràng, mối quan tâm lớn nhất của Lầu Năm Góc là tự do hàng hải cho các tàu thương mại và lực lượng Hải quân Mỹ, cũng như việc ngăn chặn Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Biển Đông, động thái có thể đe dọa các đồng minh chiến lược của Mỹ trong khu vực như Philippines. Vì thế cũng không khó đoán vì sao đoàn đại biểu quốc phòng của Trung Quốc đã cố gắng giải thích tại Đối thoại Shangri-La rằng các hoạt động của nước này ở Biển Đông là "chính đáng, hợp pháp và hợp lý". Trung Quốc phủ nhận toàn bộ và cho rằng không có bất kỳ vấn đề gì. Với lối hành xử như vậy, Trung Quốc không chỉ không tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như Bộ trưởng Carter đã chỉ ra, mà còn gây gổ với phần lớn các nước trong khu vực. Không một quốc gia nào, kể cả các đồng minh thân thiết với Trung Quốc, cố công khai biện minh hay bảo vệ các hành động của nước này ở Biển Đông.

Những quan ngại chung

Singapore có truyền thống duy trì an ninh và thịnh vượng của mình bằng cách áp dụng chiến lược cân bằng cực kỳ khôn ngoan giữa Bắc Kinh và Washington. Là một nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại và bị kẹp giữa các nước lớn cũng như các đối thủ lịch sử, Singapore đã dựa vào mối quan hệ cộng sinh Mỹ-Trung để đảm bảo môi trường thuận lợi cho phát triển bền vững và thịnh vượng trong khu vực.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, Singapore cũng cảm thấy báo động trước những hành động quyết đoán trên biển của Trung Quốc. Để đối phó với thực tế này, Singapore mở rộng quyền tiếp cận cho các tàu chiến Mỹ, cho phép Hạm đội tàu chiến bờ biển Mỹ (LCS) được neo đậu thường trực và kêu gọi Washington đưa ra cam kết chiến lược lớn hơn cho khu vực. Trong một bài phát biểu quan trọng, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã cảnh báo về "vòng luẩn quẩn" ở Biển Đông và nhấn mạnh cách thức các tranh chấp nên được khẩn trương "quản lý và ngăn chặn".

Với việc Singapore sắp đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN-Trung Quốc, Thủ tướng Lý Hiển Long hối thúc hai bên hoàn tất "càng sớm càng tốt" Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) và kêu gọi "tất cả các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)". Tuy nhiên, lâu nay Trung Quốc luôn dẫn "các quyền lịch sử" để phản đối việc áp dụng UNCLOS cho các vùng biển tranh chấp, đồng thời liên tục ngáng trở các cuộc đàm phán COC.

Trước những lo lắng ngày càng tăng của nhiều quốc gia Đông Nam Á, Bộ trưởng Carter đã tiết lộ sáng kiến quốc phòng trị giá 425 triệu USD nhằm tăng cường khả năng hàng hải và phòng vệ bờ biển cho các các đồng minh cũng như các đối tác chiến lược trong ASEAN. Những đồng minh khu vực chủ chốt của Mỹ như Úc cũng đã tái khẳng định quyết tâm tiếp tục tuần tra ở Biển Đông, trong khi Nhật Bản - nhờ đã sửa đổi nguyên tắc chỉ đạo hợp tác quốc phòng song phương với Mỹ - giờ đây đã có thể xem xét lựa chọn tham gia tuần tra chung trên không phận Biển Đông. Trong khí đó, trong Sách Trắng mới nhất của Trung Quốc, nước này đề cập đến việc "phòng vệ ở các vùng biển xa và bảo vệ các vùng biển mở". Chắc chắn, điều này sẽ mở ra một trận chiến khó khăn cho Mỹ trong tương lai gần.

Richard Javad Heydarian

* Tác giả Richard Javad Heydarian là Phó Giáo sư về Khoa học Chính trị, Đại học De La Salle. Bài viết đăng trên trang "CSIS”.

Hương Trà (gt)

(Nghiên Cứu Biển Đông)
16:00 Unknown
Trung Quốc quyết tâm theo đuổi tham vọng và lợi ích chiến lược ở Biển Đông, nên thách thức lớn nhất đối với Mỹ là tập hợp được sự ủng hộ của khu vực và triển khai các thiết bị quân sự để chống lại chủ nghĩa phiêu lưu của Bắc Kinh

20110611_asd000.jpg

 Trung Quốc còn lâu mới trở thành một cường quốc có sức mạnh tổng hợp. Sự phát triển thần tốc liên tục trong nhiều năm qua đã tạo cho nước này cả lực hội nhập hướng tâm và lực phân mảnh ly tâm. Đầu năm nay, Bắc Kinh đã thực hiện thành công một chiêu bài chiến lược lớn chống lại Mỹ khi đã khôn ngoan thuyết phục được gần như các nền kinh tế có liên quan ở châu Á và phương Tây tham gia Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) do nước này sáng lập, bất chấp sự phản đối kịch liệt của Washington. Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã phải chấp nhận "quả đắng" khi chứng kiến Bắc Kinh từng bước thách thức vị trí kiến tạo trật tự tài chính toàn cầu vốn xưa nay luôn nằm trong tay Washington. Hầu hết các nước, xuất phát từ quan điểm thực dụng trước túi tiền của Trung Quốc, đều thận trọng hoan nghênh sáng kiến AIIB khi đây được coi là phương thuốc thần kỳ - dù chưa đủ- cho việc đáp ứng các nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng trong khu vực. Nhưng bên cạnh việc thu hút các nước cùng tham gia AIIB, Trung Quốc cũng đang trở thành một quốc gia gây phân cực khi khuấy động các tranh chấp biển dai dẳng lâu nay ở khu vực Tây Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh đó, Đối thoại Shangri-La lần thứ 15 là cơ hội tốt để Mỹ và các đồng minh chuyển thế tấn công Trung Quốc về những hoạt động xây dựng ồ ạt và tăng cường hiện diện quân sự của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, những quốc gia không liên quan trực tiếp tới các tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông, trong đó có Singapore với vai trò chủ nhà hội nghị, đã lưỡng lự bày tỏ quan ngại sâu sắc về những tranh chấp biển. Với một vài dấu hiệu thỏa hiệp nhỏ và việc các giới chức quân sự Trung Quốc công khai ý đồ sẽ thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông nếu nhận thấy các mối đe dọa đi quá giới hạn, Mỹ và các đồng minh đang phải tính toán cách thức phản ứng phù hợp trước những hành động khiêu khích hơn nữa từ phía Trung Quốc.

Cuộc đấu giữa những người khổng lồ

Đối thoại Shangri-La rõ ràng đã trở thành một diễn đàn ngoại giao quốc tế đối với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, người đã có bài phát biểu rất được trông đợi sau chiến dịch kéo dài hàng tháng của Lầu Năm Góc lên án các hoạt động xây dựng của Bắc Kinh. Bằng việc triển khai các máy bay do thám (có đội ngũ phóng viên đi kèm) và các tàu chiến tới gần các thực thể xây dựng nhân tạo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, Hải quân Mỹ đã công khai thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với những thực thể này. Hải quân Mỹ cũng trực tiếp lên án Trung Quốc về việc quân sự hóa các vùng biển tranh chấp, với những báo cáo về việc Bắc Kinh cho triển khai các dàn pháo cơ giới và hệ thống phòng thủ tới Biển Đông.

Rõ ràng, mối quan tâm lớn nhất của Lầu Năm Góc là tự do hàng hải cho các tàu thương mại và lực lượng Hải quân Mỹ, cũng như việc ngăn chặn Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Biển Đông, động thái có thể đe dọa các đồng minh chiến lược của Mỹ trong khu vực như Philippines. Vì thế cũng không khó đoán vì sao đoàn đại biểu quốc phòng của Trung Quốc đã cố gắng giải thích tại Đối thoại Shangri-La rằng các hoạt động của nước này ở Biển Đông là "chính đáng, hợp pháp và hợp lý". Trung Quốc phủ nhận toàn bộ và cho rằng không có bất kỳ vấn đề gì. Với lối hành xử như vậy, Trung Quốc không chỉ không tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như Bộ trưởng Carter đã chỉ ra, mà còn gây gổ với phần lớn các nước trong khu vực. Không một quốc gia nào, kể cả các đồng minh thân thiết với Trung Quốc, cố công khai biện minh hay bảo vệ các hành động của nước này ở Biển Đông.

Những quan ngại chung

Singapore có truyền thống duy trì an ninh và thịnh vượng của mình bằng cách áp dụng chiến lược cân bằng cực kỳ khôn ngoan giữa Bắc Kinh và Washington. Là một nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại và bị kẹp giữa các nước lớn cũng như các đối thủ lịch sử, Singapore đã dựa vào mối quan hệ cộng sinh Mỹ-Trung để đảm bảo môi trường thuận lợi cho phát triển bền vững và thịnh vượng trong khu vực.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, Singapore cũng cảm thấy báo động trước những hành động quyết đoán trên biển của Trung Quốc. Để đối phó với thực tế này, Singapore mở rộng quyền tiếp cận cho các tàu chiến Mỹ, cho phép Hạm đội tàu chiến bờ biển Mỹ (LCS) được neo đậu thường trực và kêu gọi Washington đưa ra cam kết chiến lược lớn hơn cho khu vực. Trong một bài phát biểu quan trọng, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã cảnh báo về "vòng luẩn quẩn" ở Biển Đông và nhấn mạnh cách thức các tranh chấp nên được khẩn trương "quản lý và ngăn chặn".

Với việc Singapore sắp đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN-Trung Quốc, Thủ tướng Lý Hiển Long hối thúc hai bên hoàn tất "càng sớm càng tốt" Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) và kêu gọi "tất cả các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)". Tuy nhiên, lâu nay Trung Quốc luôn dẫn "các quyền lịch sử" để phản đối việc áp dụng UNCLOS cho các vùng biển tranh chấp, đồng thời liên tục ngáng trở các cuộc đàm phán COC.

Trước những lo lắng ngày càng tăng của nhiều quốc gia Đông Nam Á, Bộ trưởng Carter đã tiết lộ sáng kiến quốc phòng trị giá 425 triệu USD nhằm tăng cường khả năng hàng hải và phòng vệ bờ biển cho các các đồng minh cũng như các đối tác chiến lược trong ASEAN. Những đồng minh khu vực chủ chốt của Mỹ như Úc cũng đã tái khẳng định quyết tâm tiếp tục tuần tra ở Biển Đông, trong khi Nhật Bản - nhờ đã sửa đổi nguyên tắc chỉ đạo hợp tác quốc phòng song phương với Mỹ - giờ đây đã có thể xem xét lựa chọn tham gia tuần tra chung trên không phận Biển Đông. Trong khí đó, trong Sách Trắng mới nhất của Trung Quốc, nước này đề cập đến việc "phòng vệ ở các vùng biển xa và bảo vệ các vùng biển mở". Chắc chắn, điều này sẽ mở ra một trận chiến khó khăn cho Mỹ trong tương lai gần.

Richard Javad Heydarian

* Tác giả Richard Javad Heydarian là Phó Giáo sư về Khoa học Chính trị, Đại học De La Salle. Bài viết đăng trên trang "CSIS”.

Hương Trà (gt)

(Nghiên Cứu Biển Đông)

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Binh sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tuần tra trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, ngày 29/1/2016.
Binh sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tuần tra trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, ngày 29/1/2016.
Việc Philippines đưa Trung Quốc ra trước toà án trọng tài quốc tế về yêu sách của Bắc Kinh, đòi chủ quyền trên hầu hết Biển Đông đang trở thành một bài toán ngoại giao làm nhức đầu giới lãnh đạo các nước trên thế giới.

Hãng tin AP hôm nay đăng tải một bài viết, điểm qua lập trường của các nước về vấn đề Biển Đông, nói rằng càng gần tới ngày toà án quốc tế ở La Haye ra phán quyết, Washington và Bắc Kinh càng tăng áp lực để thuyết phục công luận thế giới ủng hộ lập trường của mình về vai trò của toà án trọng tài quốc tế trong cuộc tranh chấp Biển Đông, để tăng sức ép buộc Bắc Kinh phải tuân thủ phán quyết của toà án.

Trung Quốc vẫn duy trì lập trường cho rằng họ sẽ không chấp nhận phán quyết của toà án La Haye, và đang tìm cách vận động sự ủng họ của các nước khác, đa số là các nước ở Châu Phi và Trung Đông.

Hãng tin AP điểm qua danh sách của các bên về vấn đề Biển Đông của họ như sau:

Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN

ASEAN từ lâu đã ra sức tìm một giải pháp ngoại giao để giải quyết các vụ tranh chấp Biển Đông, tuy nhiên khối này không đạt được bao nhiêu tiến bộ mà còn phơi bày những sự chia rẽ sâu sắc trong khối 10 nước thành viên. Đạt một giải pháp đồng thuận về phán quyết của Toà án Trọng tài quốc tế sẽ là một thách thức đầy khó khăn.

Khi Tổng Thống Mỹ gặp các nhà lãnh đạo ASEAN vào tháng Hai, các nước đồng ý sẽ “hoàn toàn tôn trọng các tiến trình pháp lý và ngoại giao” dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc, nhưng Campuchia và Lào, hai thành viên ASEAN thân Trung Quốc, cực lực chống đối bất cứ lúc nào toà án trọng tài được đề cập.

Theo AP, là một nước cũng tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Đông, Việt Nam là nước ủng hộ vụ kiện của Philippines. Hà Nội đã tuyên bố ủng hộ việc tuân thủ hoàn toàn các thủ tục pháp lý liên quan tới vụ kiện này.

Indonesia và Singapore không tranh chấp chủ quyền nhưng đã lên tiếng mạnh mẽ hơn. Ngoại Trưởng Singapore Vivian Balakhrishnan tuần trước nói phán quyết của toà quốc tế sẽ có những hệ quả vượt ra khỏi vùng Biển Đông, và “Singapore không thể chấp nhận lý lẽ là thuộc về kẻ mạnh.” Ngoại trưởng Indonesia không khẳng định lập trường về tính cách ràng buộc của phán quyết của toà án quốc tế, nhưng nói luật pháp quốc tế phải được tôn trọng.

Riêng Philippines, là nước đâm đơn kiện thì lập trường cũng chưa xác định được từ khi ông Duterte đắc cử và bày tỏ sẵn sàng khởi động lại các cuộc thương thuyết song phương với Trung Quốc.

Nga

Moscow, như Bắc Kinh cũng tỏ ra hoài nghi đối với Washington, và vì thế là nước nổi bật nhất ủng hộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Trong chuyến công du sang Trung Quốc hồi tháng Tư, Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov nói Nga chống đối bất cứ sự can thiệp nào của các nước bên ngoài, rõ ràng ám chỉ Mỹ, và khẳng định Nga chống đối bất cứ nỗ lực nào để quốc tế hoá các cuộc tranh chấp Biển Đông. Nga ủng hộ lập trường của Trung Quốc, rằng các cuộc tranh chấp này phải được giải quyết song phương.

Các nước Châu Phi, Trung Đông ủng hộ Trung Quốc

Hãng tin Xinhua của nhà nước Trung Quốc hôm 20/5 nói hơn 40 nước đã bày tỏ sự ủng hộ đối với lập trường của Bắc Kinh về vụ kiện do Philippines khởi động. Trong mấy tuần gần đây, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nêu bật lập trường ủng hộ của các nước, chủ yếu là ở Châu Phi, Trung Quốc và Trung Á.

Nhưng trong số các nước được Bắc Kinh nêu tên, ít chính quyền nước ngoài nào ra thông báo để khẳng định lập trường của mình một cách độc lập. Một số, kể cả Campuchia, Lào và Fiji, còn phản đối cách Trung Quốc miêu tả lập trường của họ.

Các chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS) nói họ có thể xác nhận các tuyên bố chính thức của Afghanistan, Gambia, Niger, Sudan và Vanuatu mà thôi.

Liên Hiệp Âu Châu và khối G7

Liên Hiệp Âu Châu kêu gọi tất cả các bên đòi chủ quyền Biển Đông phải giải quyết tranh chấp một cách hoà bình, và dựa trên luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Khối Thất Cường G7 kêu gọi tất cả các nước phải hoàn toàn thi hành các phán quyết do các toà án trọng tài quốc tế đưa ra dựa trên công ước này.

Trong tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean Yves Le Drian còn đề nghị các lực lượng hải quân Châu Âu phối hợp để thực hiện các cuộc tuàn hành trên Biển Đông để khẳng định trật tự hàng hải quốc tế. Ông khuyến cáo nếu luật pháp quốc tế trên biển không được tôn trọng trong vùng, thì luật pháp quốc tế tại các vùng biển khác như ở Biển Địa Trung Hải cũng sẽ bị thách thức.

Australia

Vào tháng 1 năm nay, Ngoại trưởng Julie Bishop nói phán quyết do toà án quốc tế đưa ra về vụ kiện Philippines chống Trung Quốc sẽ vô cùng quan trọng, và sẽ giải quyết một lần cuối cùng liệu các đảo và bãi đá nhân tạo có quyền có khu đặc quyền kinh tế hay không. Nhưng Australia không khẳng định rõ lập trường ủng hộ phán quyết của toà án trọng tài như Mỹ, vì lo ngại về hệ quả của nó đối với việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh hải với Đông Timor.

Ấn Độ

Ấn Độ không tuyên bố lập trường rõ rệt về vụ kiện, nhưng nói chung tuyên bố luật pháp quốc tế phải được tuân thủ. Ấn Độ chia sẻ các quan tâm của Mỹ về những tham vọng bá quyền của Trung Quốc trong các vùng biển của khu vực.

Nhật Bản

Nhật Bản là một trong các nước đầu tiên ủng hộ các nỗ lực của Philippines đưa Trung Quốc ra trước toà án trọng tài quốc tế, và nói cả hai nước liên quan phải tuân thủ phán quyết của toà. Lập trường của Nhật Bản phản ánh quan ngại của nước này về những hành động của Trung Quốc đòi chủ quyền của các tuyến hàng hải thiết yếu trên Biển Đông, nơi 80% các chuyến tàu nhập khẩu dầu hoả của Nhật Bản phải đi ngang qua.

(VOA)
          
16:30 Unknown
Binh sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tuần tra trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, ngày 29/1/2016.
Binh sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tuần tra trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, ngày 29/1/2016.
Việc Philippines đưa Trung Quốc ra trước toà án trọng tài quốc tế về yêu sách của Bắc Kinh, đòi chủ quyền trên hầu hết Biển Đông đang trở thành một bài toán ngoại giao làm nhức đầu giới lãnh đạo các nước trên thế giới.

Hãng tin AP hôm nay đăng tải một bài viết, điểm qua lập trường của các nước về vấn đề Biển Đông, nói rằng càng gần tới ngày toà án quốc tế ở La Haye ra phán quyết, Washington và Bắc Kinh càng tăng áp lực để thuyết phục công luận thế giới ủng hộ lập trường của mình về vai trò của toà án trọng tài quốc tế trong cuộc tranh chấp Biển Đông, để tăng sức ép buộc Bắc Kinh phải tuân thủ phán quyết của toà án.

Trung Quốc vẫn duy trì lập trường cho rằng họ sẽ không chấp nhận phán quyết của toà án La Haye, và đang tìm cách vận động sự ủng họ của các nước khác, đa số là các nước ở Châu Phi và Trung Đông.

Hãng tin AP điểm qua danh sách của các bên về vấn đề Biển Đông của họ như sau:

Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN

ASEAN từ lâu đã ra sức tìm một giải pháp ngoại giao để giải quyết các vụ tranh chấp Biển Đông, tuy nhiên khối này không đạt được bao nhiêu tiến bộ mà còn phơi bày những sự chia rẽ sâu sắc trong khối 10 nước thành viên. Đạt một giải pháp đồng thuận về phán quyết của Toà án Trọng tài quốc tế sẽ là một thách thức đầy khó khăn.

Khi Tổng Thống Mỹ gặp các nhà lãnh đạo ASEAN vào tháng Hai, các nước đồng ý sẽ “hoàn toàn tôn trọng các tiến trình pháp lý và ngoại giao” dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc, nhưng Campuchia và Lào, hai thành viên ASEAN thân Trung Quốc, cực lực chống đối bất cứ lúc nào toà án trọng tài được đề cập.

Theo AP, là một nước cũng tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Đông, Việt Nam là nước ủng hộ vụ kiện của Philippines. Hà Nội đã tuyên bố ủng hộ việc tuân thủ hoàn toàn các thủ tục pháp lý liên quan tới vụ kiện này.

Indonesia và Singapore không tranh chấp chủ quyền nhưng đã lên tiếng mạnh mẽ hơn. Ngoại Trưởng Singapore Vivian Balakhrishnan tuần trước nói phán quyết của toà quốc tế sẽ có những hệ quả vượt ra khỏi vùng Biển Đông, và “Singapore không thể chấp nhận lý lẽ là thuộc về kẻ mạnh.” Ngoại trưởng Indonesia không khẳng định lập trường về tính cách ràng buộc của phán quyết của toà án quốc tế, nhưng nói luật pháp quốc tế phải được tôn trọng.

Riêng Philippines, là nước đâm đơn kiện thì lập trường cũng chưa xác định được từ khi ông Duterte đắc cử và bày tỏ sẵn sàng khởi động lại các cuộc thương thuyết song phương với Trung Quốc.

Nga

Moscow, như Bắc Kinh cũng tỏ ra hoài nghi đối với Washington, và vì thế là nước nổi bật nhất ủng hộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Trong chuyến công du sang Trung Quốc hồi tháng Tư, Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov nói Nga chống đối bất cứ sự can thiệp nào của các nước bên ngoài, rõ ràng ám chỉ Mỹ, và khẳng định Nga chống đối bất cứ nỗ lực nào để quốc tế hoá các cuộc tranh chấp Biển Đông. Nga ủng hộ lập trường của Trung Quốc, rằng các cuộc tranh chấp này phải được giải quyết song phương.

Các nước Châu Phi, Trung Đông ủng hộ Trung Quốc

Hãng tin Xinhua của nhà nước Trung Quốc hôm 20/5 nói hơn 40 nước đã bày tỏ sự ủng hộ đối với lập trường của Bắc Kinh về vụ kiện do Philippines khởi động. Trong mấy tuần gần đây, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nêu bật lập trường ủng hộ của các nước, chủ yếu là ở Châu Phi, Trung Quốc và Trung Á.

Nhưng trong số các nước được Bắc Kinh nêu tên, ít chính quyền nước ngoài nào ra thông báo để khẳng định lập trường của mình một cách độc lập. Một số, kể cả Campuchia, Lào và Fiji, còn phản đối cách Trung Quốc miêu tả lập trường của họ.

Các chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS) nói họ có thể xác nhận các tuyên bố chính thức của Afghanistan, Gambia, Niger, Sudan và Vanuatu mà thôi.

Liên Hiệp Âu Châu và khối G7

Liên Hiệp Âu Châu kêu gọi tất cả các bên đòi chủ quyền Biển Đông phải giải quyết tranh chấp một cách hoà bình, và dựa trên luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Khối Thất Cường G7 kêu gọi tất cả các nước phải hoàn toàn thi hành các phán quyết do các toà án trọng tài quốc tế đưa ra dựa trên công ước này.

Trong tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean Yves Le Drian còn đề nghị các lực lượng hải quân Châu Âu phối hợp để thực hiện các cuộc tuàn hành trên Biển Đông để khẳng định trật tự hàng hải quốc tế. Ông khuyến cáo nếu luật pháp quốc tế trên biển không được tôn trọng trong vùng, thì luật pháp quốc tế tại các vùng biển khác như ở Biển Địa Trung Hải cũng sẽ bị thách thức.

Australia

Vào tháng 1 năm nay, Ngoại trưởng Julie Bishop nói phán quyết do toà án quốc tế đưa ra về vụ kiện Philippines chống Trung Quốc sẽ vô cùng quan trọng, và sẽ giải quyết một lần cuối cùng liệu các đảo và bãi đá nhân tạo có quyền có khu đặc quyền kinh tế hay không. Nhưng Australia không khẳng định rõ lập trường ủng hộ phán quyết của toà án trọng tài như Mỹ, vì lo ngại về hệ quả của nó đối với việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh hải với Đông Timor.

Ấn Độ

Ấn Độ không tuyên bố lập trường rõ rệt về vụ kiện, nhưng nói chung tuyên bố luật pháp quốc tế phải được tuân thủ. Ấn Độ chia sẻ các quan tâm của Mỹ về những tham vọng bá quyền của Trung Quốc trong các vùng biển của khu vực.

Nhật Bản

Nhật Bản là một trong các nước đầu tiên ủng hộ các nỗ lực của Philippines đưa Trung Quốc ra trước toà án trọng tài quốc tế, và nói cả hai nước liên quan phải tuân thủ phán quyết của toà. Lập trường của Nhật Bản phản ánh quan ngại của nước này về những hành động của Trung Quốc đòi chủ quyền của các tuyến hàng hải thiết yếu trên Biển Đông, nơi 80% các chuyến tàu nhập khẩu dầu hoả của Nhật Bản phải đi ngang qua.

(VOA)
          
Chúng ta cứ ứng xử với nhau một cách minh bạch và sòng phẳng trên cơ sở luật pháp quốc tế là cách bảo vệ tình hữu nghị tốt nhất, lâu bền nhất.

Báo điện tử Infonet ngày 13/6 đăng bài bình luận của Đại tá Lê Thế Mẫu với tiêu đề: "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông", nội dung xoay quanh bài báo  "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" ,  đăng trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 11/6.

Người viết tôn trọng quan điểm của cá nhân tác giả Lê Thế Mẫu cũng như những tiếng nói đa chiều xung quanh việc làm sao bảo vệ tốt nhất độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, hòa bình và ổn định, tự do hàng hải hàng không trên Biển Đông.

Đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc leo thang quân sự hóa, và phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực PCA về đường lưỡi bò đang đến gần, việc làm rõ những băn khoăn, thắc mắc và trao đổi các vấn đề xung quanh càng trở nên quan trọng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội kiến với Tổng thống Vladimir Putin trong chuyến thăm Việt Nam tháng 11-2013. Ảnh: TTXVN / nld.com.vn.
Xuất phát từ nhận thức đó, người viết xin có mấy dòng làm rõ hơn những vấn đề Đại tá Lê Thế Mẫu đặt ra trong bài viết này, bởi cá nhân người viết thiết nghĩ đó cũng là quan tâm chung của dư luận đang theo dõi tình hình Biển Đông và diễn biến vụ kiện của Philippines.

Bởi lẽ việc này có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, và cũng để tránh những tranh cãi hoặc hiểu lầm không cần thiết.

Làm rõ lập trường của Nga về Biển Đông

Lý do Bộ Ngoại giao Nga ra tuyên bố về vấn đề Biển Đông trong cuộc họp báo tuần do bà Maria Zakharova - người phát ngôn cơ quan này chủ trì được Đại tá Lê Thế Mẫu trích dẫn, người viết tạm lược bỏ chữ "biển Nam Trung Hoa", bởi cá nhân người viết cho rằng đối với người Việt Nam chỉ có Biển Đông, các nước có thể có tên gọi riêng nhưng với Việt Nam, Biển Đông là Biển Đông: 

“Trong thời gian gần đây, chúng tôi đã từng lưu ý về những bài viết trên các phương tiện truyền thông, trong đó có những thông báo trích dẫn lời của các quan chức cấp cao của Nga rằng dường như Nga ngày càng dính líu sâu vào chủ đề về tình hình trên Biển Đông.

 Ngoài ra, trong những bài viết đó đưa ra sự khẳng định rằng chúng tôi đang nghiêng về ủng hộ một trong các bên tranh chấp lãnh thổ ở vùng biển này. Vì vậy, mặc dù đã rất nhiều lần đề cập tới chủ đề này, hôm nay chúng tôi muốn đưa ra lời bình luận riêng về vấn đề đó”.

Như vậy có thể thấy việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga đưa ra bình luận riêng về Biển Đông chính là vì dư luận, truyền thông "hiểu lầm" về lập trường của Nga trong vấn đề Biển Đông với 2 đặc điểm: Một là Nga "ngày càng dính lứu sâu" vào chủ đề này; Hai là Nga đang nghiêng về ủng hộ một trong các bên tranh chấp lãnh thổ ở vùng biển này mà có thể nói thẳng ra rằng, bên đó là Trung Quốc.

Người viết rất hoan nghênh việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga lên tiếng giải thích về lập trường chính thức của Nga về Biển Đông trước những băn khoăn của dư luận.

Tuy nhiên về nội dung câu trả lời của bà Maria Zakharova vẫn chưa trả lời được những thắc mắc của người viết, cụ thể:

Dư luận đang quan tâm đến căng thẳng tại Biển Đông chủ yếu tập trung vào tranh chấp hàng hải, tranh chấp trong việc ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS chứ không phải tranh chấp chủ quyền các thực thể ở Trường Sa, Hoàng Sa hay Scarborough.

PCA thụ lý và sắp sửa ra phán quyết vụ kiện của Philippines cũng xoay quanh nội dung tranh chấp hàng hải, tranh chấp trong việc ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS chứ không phải tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ.

Còn Trung Quốc thì ra sức đánh đồng khái niệm và bản chất các tranh chấp hàng hải, ứng dụng và giải thích, vi phạm UNCLOS thành "tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ" để né tránh phán quyết của Tòa và trách nhiệm của một thành viên UNCLOS.

Trong bối cảnh đó, ngày 12/4 Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đã trả lời báo chí về lập trường của Nga xung quanh một số vấn đề quốc tế, trong đó có tình hình căng thẳng leo thang trên Biển Đông với rất nhiều vấn đề khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi về lập trường của Nga.

Chúng tôi đã đề cập và phân tích vấn đề này trong bài:  "Bình luận đáng chú ý của Ngoại trưởng Nga về Biển Đông" đăng trên Báo Điển tử Giáo dục Việt Nam ngày 13/4/2016.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova. Ảnh: russia-insider.com.
Tuy nhiên tuyên bố mới nhất của Bộ Ngoại giao Nga về vấn đề Biển Đông do bà Maria Zakharova đưa ra vẫn tiếp tục dùng khái niệm "tranh chấp lãnh thổ" hoặc "tranh chấp chủ quyền" khi đề cập đến quan tâm của dư luận về vấn đề tranh chấp hàng hải, áp dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS ở Biển Đông hiện nay, khiến người viết tiếp tục nhắc lại lập luận của mình trong bài "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" ngày 11/6.

Cũng xin lưu ý thêm, tác giả Lê Thế Mẫu đã hiểu lầm ý của người viết khi cho rằng: "Trước hết, cần khẳng định, đây không phải là “tuyên bố mới nhất về lập trường của Nga trong vấn đề Biển Đông” như tác giả Hồng Thủy nhận định trên giaoduc.net.vn, mà chỉ là sự tái khẳng định quan điểm nhất quán, trước sau như một, của Nga về các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông".

Tính đến thời điểm bài báo "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" xuất bản lúc 6 giờ 31 phút sáng 11/6, thì đó đúng là tuyên bố mới nhất về lập trường của Nga xung quanh vấn đề Biển Đông. Người viết không nói là "lập trường mới nhất", mà là "tuyên bố mới nhất về lập trường của Nga".

Tại sao phải làm rõ lập trường của Nga?

Một là vì những tuyên bố của Ngoại trưởng Sergei Lavrov hay người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova về Biển Đông vẫn tiếp tục sử dụng khái niệm "tranh chấp lãnh thổ" / "tranh chấp chủ quyền" khi nói về các tranh chấp hết sức phức tạp ở Biển Đông, mà nổi bật nhất hiện nay là tranh chấp về ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS.

Hai là những tuyên bố này đưa ra ngay trước thềm PCA chuẩn bị ra phán quyết về vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc áp dụng sai, giải thích sai và vi phạm UNCLOS ở Biển Đông.

Trung Quốc ra sức chống đối bằng cách đánh tráo khái niệm, bản chất vụ kiện từ tranh chấp vận dụng, giải thích, vi phạm UNCLOS thành "tranh chấp chủ quyền" / "tranh chấp lãnh thổ" để né tránh phán quyết của Tòa.

Phát biểu của Ngoại trưởng Nga và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga về Biển Đông không hiểu do vô tình hay hữu ý, lại trùng hợp với lập luận này của Trung Quốc, khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi.

Còn tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, bãi cạn Scarborough phải dựa trên hệ thống luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, khác hoàn toàn với cách giải quyết tranh chấp hàng hải trong vụ kiện của Philippines.

Đó không phải là tranh chấp ứng dụng và giải thích UNCLOS, do đó khó có thể giải quyết căn cứ trên UNCLOS chứ chưa nói đến DOC, COC.

Ba là Việt Nam có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp không nhỏ trong vụ kiện của Philippines, và nếu PCA bác bỏ đường lưỡi bò bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông là đã góp phần thu hẹp đáng kể tranh chấp ở Biển Đông.

Bởi lẽ ngoài chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam còn có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý hợp pháp theo UNCLOS ở Biển Đông, với bờ biển dài 3.260 km, thì đây chính là đối tượng bị đường lưỡi bò Trung Quốc "xâm hại" nghiêm trọng, đồng thời cũng là đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của PCA trong phán quyết tới đây.

Nhân đây người viết cũng xin nói thêm, một số quan điểm trong xã hội chúng ta kêu gọi "bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam" là không đầy đủ, bởi nếu chỉ nhắc đến bảo vệ "chủ quyền biển đảo" đối với Hoàng Sa, Trường Sa và một số vùng nội thủy, lãnh hải 12 hải lý dọc bờ biển thì quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì để cho ai bảo vệ?

Xin lưu ý là đường lưỡi bò Trung Quốc đang xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam chứ không phải "xâm phạm chủ quyền".

Đó cũng là bản chất và tính toán thâm độc của Trung Quốc trong vụ hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam năm 2014 mà Bắc Kinh tuyên truyền là vị trí này nằm trong "vùng biển Hoàng Sa".

Bắc Kinh muốn ám chỉ vùng đặc quyền kinh tế Hoàng Sa do họ bóp méo Điều 47 UNCLOS và đưa ra đường cơ sở thẳng để tính chiều rộng lãnh hải cho Hoàng Sa năm 1996.

Đại tá Lê Thế Mẫu, ảnh: Infonet.
Bốn là với tư cách một thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tiếng nói của Nga rõ ràng có tác động và ảnh hưởng nhất định với dư luận quốc tế, thậm chí có thể là tới Hội đồng Trọng tài 5 thẩm phán do PCA chỉ định để thụ lý vụ kiện.

Những phát biểu không rõ ràng của Nga tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam và các bên khác ở Biển Đông thì việc lên tiếng yêu cầu Nga làm rõ thiết nghĩ là một việc hết sức bình thường.

Thiết nghĩ những điều này cũng có thể làm rõ vấn đề thứ 2 Đại tá Lê Thế Mẫu đặt ra:

"(2) Quan điểm của Nga về việc “các lực lượng thứ ba tham gia vào các cuộc tranh chấp này chỉ có thể khiến cho tình tình trong khu vực này căng thẳng thêm”.

Quan điểm của Nga phản ánh một thực tế là, từ trước tới nay, tất cả các cuộc đàm phán về DOC, hay COC, hay tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đều chỉ được tiến hành trong khuôn khổ song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác có tranh chấp, hoặc trong khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc."

Tuy nhiên người viết không đồng ý với nhận định này của bà Maria Zakharova và Đại tá Mẫu, bởi lẽ chính ông Mẫu cũng thừa nhận Nga, Mỹ, EU, Nhật Bản hay các quốc gia khác đều trung lập trong vấn đề "tranh chấp chủ quyền".

Có điều lập trường của "bên thứ ba" như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Ấn Độ, EU... đối với việc ứng dụng, giải thích UNCLOS, bảo vệ tự do hàng hải hàng không ở Biển Đông thì hoàn toàn khác.

Các nước này chống lại các hành vi phiêu lưu quân sự hóa Biển Đông, bồi đắp đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục tiến hành, cũng như hoạt động hủy diệt môi trường, đe dọa tài sản và tính mạng ngư dân nước khác trên Biển Đông.

"Các lực lượng thứ ba tham giao vào các cuộc tranh chấp này" theo người viết, chính là can thiệp và ngăn chặn các hành động phiêu lưu, quân sự hóa Biển Đông, chà đạp luật pháp quốc tế mà Trung Quốc đang tiến hành.

Cũng chính lực lượng thứ ba này, bao gồm cả PCA, đang góp phần đấu tranh bảo vệ hòa bình và công lý ở Biển Đông. Không có lực lượng thứ ba này, Trung Quốc sẽ còn được thể làm càn và không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Còn điểm then chốt thứ (3) trong phát biểu của bà Maria Zakharova được Đại tá Lê Thế Mẫu trích dẫn, người viết đã đề cập ở phía trên. Tranh chấp lãnh thổ phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cụ thể là các điều luật quốc tế, án lệ quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, không phải ứng dụng UNCLOS nên UNCLOS hay DOC, COC không phải chìa khóa giải quyết vấn đề này.

Năm là, nếu Việt Nam chúng ta với tư cách là một bên liên quan trực tiếp đến vụ kiện, có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý hợp pháp bị đường lưỡi bò xâm hại và đang là đối tượng điều chỉnh của phán quyết PCA sắp ra tới đây, nếu vẫn tiếp tục mơ hồ rằng đây là "tranh chấp chủ quyền" hay "tranh chấp lãnh thổ", thì chính chúng ta đang đi tuyên truyền không công và bảo vệ lập trường bành trướng của Trung Quốc.

Thiết nghĩ đây mới thực sự là điều nguy hại nhất.

Không nên chính trị hóa các vấn đề pháp lý

Chính trị hóa các vấn đề pháp lý là thủ thuật được nhà nước và truyền thông Trung Quốc thường xuyên sử dụng trong việc đánh tráo bản chất các tranh chấp pháp lý hòng dễ bề thao túng và lèo lái dư luận theo ý họ.

Người viết thiết nghĩ, dư luận Việt Nam chắc hẳn không lạ gì hàm ý của Trung Quốc khi diễn giải về "đại cục - tiểu cục", không lạ gì cách diễn giải của Bắc Kinh về phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh "đại cục - tiểu cục" trong chuyến thăm chính thức Việt Nam năm ngoái, ảnh: AP.

Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích quốc gia dân tộc hợp pháp của Việt Nam, cũng như để bảo vệ tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh căng thẳng, tranh chấp leo thang trên Biển Đông, người viết cho rằng chúng ta phải hiểu phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt ấy trên cơ sở luật pháp quốc tế, thực tiễn quan hệ quốc tế hiện đại.

Rõ ràng phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt là mong muốn của nhân dân hai nước, tuy nhiên cách ứng xử của nhà nước Trung Quốc phù hợp với phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt mà họ đã cam kết với Việt Nam hay chưa, đã phù hợp với luật pháp quốc tế, quan hệ quốc tế hiện đại chưa là câu chuyện khác.

Với những hành động xâm phạm hoặc gây tổn hại đến độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam từ phía Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia nào chúng ta cũng đều phải kiên quyết đấu tranh chống lại trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Với Trung Quốc, phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt chính là cái để chúng ta bám vào, kéo Trung Quốc trở lại bàn đàm phán và đấu tranh, phân tích, yêu cầu họ thực hiện đúng tinh thần, phương châm ấy.

Do đó nếu hiểu đúng ý nghĩa và khéo vận dụng, thì phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt là vũ khí chúng ta phải nắm lấy để phân tích thiệt hơn, phải quấy với Trung Quốc, chứ không phải kích bác, dè bỉu và làm mất mặt đối phương, đẩy họ vào thế đối đầu với mình.

Đặc biệt là trong bối cảnh chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay. Đó cũng là bài học dựng nước và giữ nước mà cha ông ta để lại.

Tổ tiên người Việt tự hào về truyền thống chống ngoại xâm và bảo vệ bờ cõi chứ không tự cao, tự đại vì đánh nhau và đánh thắng nước lớn. Thắng nước lớn, giữ thể diện cho nước lớn, đấu tranh bằng ngoại giao với nước lớn để giữ vững độc lập - tự chủ - hòa bình - ổn định thì dân tộc này mới có tương lai.

Người viết cho rằng, để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững được hòa bình, ổn định, giải quyết tranh chấp thông qua biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế hiện nay, chúng ta cần nhớ nằm lòng 2 câu dặn dò của cha ông: "Nói phải củ cải cũng nghe", và khi "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!".

Quay trở lại câu chuyện quan hệ Việt - Nga và quan điểm của Đại tá Lê Thế Mẫu: "Đây là nhận định có tính chất xuyên tạc quan điểm của Bộ Ngoại giao Nga, gây hoang mang trong dư luận và làm tổn hại đối với quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga mà vừa qua trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga Thủ tướng nước ta Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định:

“Cá nhân tôi, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng tuyệt đối vào nước bạn Nga”".

Người viết cho rằng, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga là tài sản quý của cả hai dân tộc, được viết nên bằng xương máu, nước mắt và tinh thần đồng chí anh em của không ít thế hệ người dân hai nước Việt Nam và Liên Xô trước đây, cũng như Nga ngày nay.

Cá nhân người viết cho rằng, Đại tá Lê Thế Mẫu và rất nhiều người Việt Nam trân trọng tình cảm ấy, và đang nỗ lực củng cố, vun bồi cho quan hệ giữa hai nước. Người viết hoàn toàn đồng ý và chia sẻ điều này.

Tuy nhiên trong quan hệ quốc tế hiện nay, đặc biệt là đối với các vấn đề liên quan đến lợi ích có tranh chấp, có khác biệt thì tình cảm ấy chỉ nên đóng vai trò nền tảng chính trị tạo bầu không khí thân thiện để hai bên trao đổi hiểu nhau hơn, cảm thông với nhau hơn, hoàn toàn không phải căn cứ để giải quyết khác biệt, bất đồng, mà căn cứ phải là lợi ích quốc gia dân tộc kết hợp luật pháp và công lý quốc tế.

Nói một cách đơn giản, không thể vì ngày trước Liên Xô và Nga giúp đỡ Việt Nam mà ngày nay thấy Nga có lập trường chưa rõ ràng có thể gây tổn hại đến lợi ích chính đáng của Việt Nam mà chúng ta im lặng không nói, để giữ tình hữu nghị.

Dân gian vẫn có câu, tiền bạc phân minh, ái tình dứt khoát. Người viết cho rằng, càng là bạn bè, anh em thân thiết càng cần sự sòng phẳng và minh bạch mới có thể lâu dài.

Bởi chỉ cần một chút mập mờ dính đến lợi ích là có thể gây chia rẽ, phá hủy tình cảm đoàn kết, hữu nghị bao năm mới có được. Thường thì đê chưa vỡ bởi lũ lớn đã vỡ bởi tổ mối trong thân đê.

Cũng như trong quan hệ với Trung Quốc, tiếp tục đấu tranh đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, 7 thực thể ở Trường Sa, ôn lại những bài học thăng trầm trong lịch sử cận đại quan hệ hai nước như cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 - 1989 hay việc Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974, Gạc Ma năm 1988 không có nghĩa là chống phá quan hệ Việt -  Trung.

Lịch sử là lịch sử, chúng ta không thay đổi được. Nhưng muốn thay đổi tương lai tốt đẹp hơn trước hiện tại còn những bất đồng, tranh chấp gay gắt ngoài Biển Đông, thì không thể không rút ra những bài học khách quan, nghiêm túc, cầu thị từ lịch sử. 

Rõ ràng điều này có lợi cho cả hai, góp phần xoa dịu nỗi đau quá khứ, ám ảnh chiến tranh thì mới có được lòng tin chiến lược để hợp tác lâu dài.

Nga và Trung Quốc là hai đối tác chiến lược toàn diện duy nhất của Việt Nam cho đến nay, nhưng điều đó không có nghĩa là rào cản để chúng ta triệt tiêu đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia dân tộc mình, hòa bình và ổn định của khu vực và luật pháp, công lý quốc tế.

Chúng ta giữ tình cảm nồng ấm, chân thành trong quan hệ với các bạn bè và đối tác, nhưng phải luôn giữ được cái đầu lạnh mới mong tránh khỏi những cái bẫy ai đó giăng ra.

Trang lyluanchinhtri.vn của Cơ quan Nghiên cứu và Ngôn luận Khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày 21/12/2015 đăng bài viết: "Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", trong đó nhắc đến chuyện:

"Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia.

Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận. 

Tại Hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố:

“Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(1).

Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu".

Còn theo Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, thì ngay cả khi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ở giai đoạn tốt đẹp nhất, Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng tuyến đường sắt liên vận Việt - Trung, họ đã cố tình gài bẫy bằng cách đặt điểm nối ray giữa đường sắt 2 nước vào sâu lãnh thổ Việt Nam 300 mét, gây ra những tranh chấp phức tạp sau này.

Do đó người viết không phản đối, mà ngược lại còn rất đồng tình, ủng hộ và chia sẻ những mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là các quốc gia bạn bè truyền thống như Liên bang Nga.

Chỉ xin lưu ý một điều, chúng ta cứ ứng xử với nhau một cách minh bạch và sòng phẳng trên cơ sở luật pháp quốc tế là cách bảo vệ tình hữu nghị tốt nhất, lâu bền nhất.

Người viết thiết nghĩ, đó mới chính là hàm ý "vừa hợp tác, vừa đấu tranh" mà nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập và được dư luận đồng thuận, chia sẻ rộng rãi.

Người viết hoàn toàn chia sẻ với quan điểm của Đại tá Lê Thế Mẫu rằng:

"Thiết nghĩ, trong thời điểm hiện nay, chúng ta cần tranh thủ tất cả những ai có quan điểm tương đồng với Việt Nam để hình thành mặt trận rộng rãi ủng hộ chúng ta trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông-một cuộc đấu tranh không cân sức, lâu dài, khó khăn và phức tạp, chứ không nên có hành động gây chia rẽ Việt Nam với các bàn bè và đối tác, trong đó Nga lại là một đối tác chiến lược toàn diện."

Tuy nhiên người viết lưu ý thêm, một là việc làm thế nào để tranh thủ sự ủng hộ của các nước bao gồm Nga thì mỗi người có một giải pháp khác nhau, suy nghĩ khác nhau, nhưng phải biết đặt độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, luật pháp và công lý quốc tế lên trên những mối quan hệ cá nhân, hành xử theo luật pháp mới có thể đạt được mục tiêu mà vẫn giữ dược tình hữu nghị.

Và người viết cũng một lần nữa xin bổ sung thêm ý Đại tá Lê Thế Mẫu rằng, trong giai đoạn hiện nay bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hợp pháp trên Biển Đông theo đúng UNCLOS là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và khả thi hơn cả.

Phán quyết của PCA sẽ cung cấp cho Việt Nam và các bên liên quan một đòn bẩy pháp lý quan trọng trong công cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ ấy. Tuy nhiên có nắm lấy cơ hội, đòn bẩy pháp lý ấy không phụ thuộc vào nhận thức của chính mỗi chúng ta.

Hồng Thủy 

(Giáo Dục)
04:07 Unknown
Chúng ta cứ ứng xử với nhau một cách minh bạch và sòng phẳng trên cơ sở luật pháp quốc tế là cách bảo vệ tình hữu nghị tốt nhất, lâu bền nhất.

Báo điện tử Infonet ngày 13/6 đăng bài bình luận của Đại tá Lê Thế Mẫu với tiêu đề: "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông", nội dung xoay quanh bài báo  "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" ,  đăng trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 11/6.

Người viết tôn trọng quan điểm của cá nhân tác giả Lê Thế Mẫu cũng như những tiếng nói đa chiều xung quanh việc làm sao bảo vệ tốt nhất độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, hòa bình và ổn định, tự do hàng hải hàng không trên Biển Đông.

Đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc leo thang quân sự hóa, và phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực PCA về đường lưỡi bò đang đến gần, việc làm rõ những băn khoăn, thắc mắc và trao đổi các vấn đề xung quanh càng trở nên quan trọng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội kiến với Tổng thống Vladimir Putin trong chuyến thăm Việt Nam tháng 11-2013. Ảnh: TTXVN / nld.com.vn.
Xuất phát từ nhận thức đó, người viết xin có mấy dòng làm rõ hơn những vấn đề Đại tá Lê Thế Mẫu đặt ra trong bài viết này, bởi cá nhân người viết thiết nghĩ đó cũng là quan tâm chung của dư luận đang theo dõi tình hình Biển Đông và diễn biến vụ kiện của Philippines.

Bởi lẽ việc này có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, và cũng để tránh những tranh cãi hoặc hiểu lầm không cần thiết.

Làm rõ lập trường của Nga về Biển Đông

Lý do Bộ Ngoại giao Nga ra tuyên bố về vấn đề Biển Đông trong cuộc họp báo tuần do bà Maria Zakharova - người phát ngôn cơ quan này chủ trì được Đại tá Lê Thế Mẫu trích dẫn, người viết tạm lược bỏ chữ "biển Nam Trung Hoa", bởi cá nhân người viết cho rằng đối với người Việt Nam chỉ có Biển Đông, các nước có thể có tên gọi riêng nhưng với Việt Nam, Biển Đông là Biển Đông: 

“Trong thời gian gần đây, chúng tôi đã từng lưu ý về những bài viết trên các phương tiện truyền thông, trong đó có những thông báo trích dẫn lời của các quan chức cấp cao của Nga rằng dường như Nga ngày càng dính líu sâu vào chủ đề về tình hình trên Biển Đông.

 Ngoài ra, trong những bài viết đó đưa ra sự khẳng định rằng chúng tôi đang nghiêng về ủng hộ một trong các bên tranh chấp lãnh thổ ở vùng biển này. Vì vậy, mặc dù đã rất nhiều lần đề cập tới chủ đề này, hôm nay chúng tôi muốn đưa ra lời bình luận riêng về vấn đề đó”.

Như vậy có thể thấy việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga đưa ra bình luận riêng về Biển Đông chính là vì dư luận, truyền thông "hiểu lầm" về lập trường của Nga trong vấn đề Biển Đông với 2 đặc điểm: Một là Nga "ngày càng dính lứu sâu" vào chủ đề này; Hai là Nga đang nghiêng về ủng hộ một trong các bên tranh chấp lãnh thổ ở vùng biển này mà có thể nói thẳng ra rằng, bên đó là Trung Quốc.

Người viết rất hoan nghênh việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga lên tiếng giải thích về lập trường chính thức của Nga về Biển Đông trước những băn khoăn của dư luận.

Tuy nhiên về nội dung câu trả lời của bà Maria Zakharova vẫn chưa trả lời được những thắc mắc của người viết, cụ thể:

Dư luận đang quan tâm đến căng thẳng tại Biển Đông chủ yếu tập trung vào tranh chấp hàng hải, tranh chấp trong việc ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS chứ không phải tranh chấp chủ quyền các thực thể ở Trường Sa, Hoàng Sa hay Scarborough.

PCA thụ lý và sắp sửa ra phán quyết vụ kiện của Philippines cũng xoay quanh nội dung tranh chấp hàng hải, tranh chấp trong việc ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS chứ không phải tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ.

Còn Trung Quốc thì ra sức đánh đồng khái niệm và bản chất các tranh chấp hàng hải, ứng dụng và giải thích, vi phạm UNCLOS thành "tranh chấp chủ quyền / lãnh thổ" để né tránh phán quyết của Tòa và trách nhiệm của một thành viên UNCLOS.

Trong bối cảnh đó, ngày 12/4 Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đã trả lời báo chí về lập trường của Nga xung quanh một số vấn đề quốc tế, trong đó có tình hình căng thẳng leo thang trên Biển Đông với rất nhiều vấn đề khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi về lập trường của Nga.

Chúng tôi đã đề cập và phân tích vấn đề này trong bài:  "Bình luận đáng chú ý của Ngoại trưởng Nga về Biển Đông" đăng trên Báo Điển tử Giáo dục Việt Nam ngày 13/4/2016.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova. Ảnh: russia-insider.com.
Tuy nhiên tuyên bố mới nhất của Bộ Ngoại giao Nga về vấn đề Biển Đông do bà Maria Zakharova đưa ra vẫn tiếp tục dùng khái niệm "tranh chấp lãnh thổ" hoặc "tranh chấp chủ quyền" khi đề cập đến quan tâm của dư luận về vấn đề tranh chấp hàng hải, áp dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS ở Biển Đông hiện nay, khiến người viết tiếp tục nhắc lại lập luận của mình trong bài "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" ngày 11/6.

Cũng xin lưu ý thêm, tác giả Lê Thế Mẫu đã hiểu lầm ý của người viết khi cho rằng: "Trước hết, cần khẳng định, đây không phải là “tuyên bố mới nhất về lập trường của Nga trong vấn đề Biển Đông” như tác giả Hồng Thủy nhận định trên giaoduc.net.vn, mà chỉ là sự tái khẳng định quan điểm nhất quán, trước sau như một, của Nga về các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông".

Tính đến thời điểm bài báo "Nga ra tuyên bố mới về Biển Đông" xuất bản lúc 6 giờ 31 phút sáng 11/6, thì đó đúng là tuyên bố mới nhất về lập trường của Nga xung quanh vấn đề Biển Đông. Người viết không nói là "lập trường mới nhất", mà là "tuyên bố mới nhất về lập trường của Nga".

Tại sao phải làm rõ lập trường của Nga?

Một là vì những tuyên bố của Ngoại trưởng Sergei Lavrov hay người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova về Biển Đông vẫn tiếp tục sử dụng khái niệm "tranh chấp lãnh thổ" / "tranh chấp chủ quyền" khi nói về các tranh chấp hết sức phức tạp ở Biển Đông, mà nổi bật nhất hiện nay là tranh chấp về ứng dụng, giải thích và vi phạm UNCLOS.

Hai là những tuyên bố này đưa ra ngay trước thềm PCA chuẩn bị ra phán quyết về vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc áp dụng sai, giải thích sai và vi phạm UNCLOS ở Biển Đông.

Trung Quốc ra sức chống đối bằng cách đánh tráo khái niệm, bản chất vụ kiện từ tranh chấp vận dụng, giải thích, vi phạm UNCLOS thành "tranh chấp chủ quyền" / "tranh chấp lãnh thổ" để né tránh phán quyết của Tòa.

Phát biểu của Ngoại trưởng Nga và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga về Biển Đông không hiểu do vô tình hay hữu ý, lại trùng hợp với lập luận này của Trung Quốc, khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi.

Còn tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, bãi cạn Scarborough phải dựa trên hệ thống luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, khác hoàn toàn với cách giải quyết tranh chấp hàng hải trong vụ kiện của Philippines.

Đó không phải là tranh chấp ứng dụng và giải thích UNCLOS, do đó khó có thể giải quyết căn cứ trên UNCLOS chứ chưa nói đến DOC, COC.

Ba là Việt Nam có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp không nhỏ trong vụ kiện của Philippines, và nếu PCA bác bỏ đường lưỡi bò bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông là đã góp phần thu hẹp đáng kể tranh chấp ở Biển Đông.

Bởi lẽ ngoài chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam còn có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý hợp pháp theo UNCLOS ở Biển Đông, với bờ biển dài 3.260 km, thì đây chính là đối tượng bị đường lưỡi bò Trung Quốc "xâm hại" nghiêm trọng, đồng thời cũng là đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của PCA trong phán quyết tới đây.

Nhân đây người viết cũng xin nói thêm, một số quan điểm trong xã hội chúng ta kêu gọi "bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam" là không đầy đủ, bởi nếu chỉ nhắc đến bảo vệ "chủ quyền biển đảo" đối với Hoàng Sa, Trường Sa và một số vùng nội thủy, lãnh hải 12 hải lý dọc bờ biển thì quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì để cho ai bảo vệ?

Xin lưu ý là đường lưỡi bò Trung Quốc đang xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam chứ không phải "xâm phạm chủ quyền".

Đó cũng là bản chất và tính toán thâm độc của Trung Quốc trong vụ hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam năm 2014 mà Bắc Kinh tuyên truyền là vị trí này nằm trong "vùng biển Hoàng Sa".

Bắc Kinh muốn ám chỉ vùng đặc quyền kinh tế Hoàng Sa do họ bóp méo Điều 47 UNCLOS và đưa ra đường cơ sở thẳng để tính chiều rộng lãnh hải cho Hoàng Sa năm 1996.

Đại tá Lê Thế Mẫu, ảnh: Infonet.
Bốn là với tư cách một thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tiếng nói của Nga rõ ràng có tác động và ảnh hưởng nhất định với dư luận quốc tế, thậm chí có thể là tới Hội đồng Trọng tài 5 thẩm phán do PCA chỉ định để thụ lý vụ kiện.

Những phát biểu không rõ ràng của Nga tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam và các bên khác ở Biển Đông thì việc lên tiếng yêu cầu Nga làm rõ thiết nghĩ là một việc hết sức bình thường.

Thiết nghĩ những điều này cũng có thể làm rõ vấn đề thứ 2 Đại tá Lê Thế Mẫu đặt ra:

"(2) Quan điểm của Nga về việc “các lực lượng thứ ba tham gia vào các cuộc tranh chấp này chỉ có thể khiến cho tình tình trong khu vực này căng thẳng thêm”.

Quan điểm của Nga phản ánh một thực tế là, từ trước tới nay, tất cả các cuộc đàm phán về DOC, hay COC, hay tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đều chỉ được tiến hành trong khuôn khổ song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác có tranh chấp, hoặc trong khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc."

Tuy nhiên người viết không đồng ý với nhận định này của bà Maria Zakharova và Đại tá Mẫu, bởi lẽ chính ông Mẫu cũng thừa nhận Nga, Mỹ, EU, Nhật Bản hay các quốc gia khác đều trung lập trong vấn đề "tranh chấp chủ quyền".

Có điều lập trường của "bên thứ ba" như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Ấn Độ, EU... đối với việc ứng dụng, giải thích UNCLOS, bảo vệ tự do hàng hải hàng không ở Biển Đông thì hoàn toàn khác.

Các nước này chống lại các hành vi phiêu lưu quân sự hóa Biển Đông, bồi đắp đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục tiến hành, cũng như hoạt động hủy diệt môi trường, đe dọa tài sản và tính mạng ngư dân nước khác trên Biển Đông.

"Các lực lượng thứ ba tham giao vào các cuộc tranh chấp này" theo người viết, chính là can thiệp và ngăn chặn các hành động phiêu lưu, quân sự hóa Biển Đông, chà đạp luật pháp quốc tế mà Trung Quốc đang tiến hành.

Cũng chính lực lượng thứ ba này, bao gồm cả PCA, đang góp phần đấu tranh bảo vệ hòa bình và công lý ở Biển Đông. Không có lực lượng thứ ba này, Trung Quốc sẽ còn được thể làm càn và không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Còn điểm then chốt thứ (3) trong phát biểu của bà Maria Zakharova được Đại tá Lê Thế Mẫu trích dẫn, người viết đã đề cập ở phía trên. Tranh chấp lãnh thổ phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cụ thể là các điều luật quốc tế, án lệ quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, không phải ứng dụng UNCLOS nên UNCLOS hay DOC, COC không phải chìa khóa giải quyết vấn đề này.

Năm là, nếu Việt Nam chúng ta với tư cách là một bên liên quan trực tiếp đến vụ kiện, có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý hợp pháp bị đường lưỡi bò xâm hại và đang là đối tượng điều chỉnh của phán quyết PCA sắp ra tới đây, nếu vẫn tiếp tục mơ hồ rằng đây là "tranh chấp chủ quyền" hay "tranh chấp lãnh thổ", thì chính chúng ta đang đi tuyên truyền không công và bảo vệ lập trường bành trướng của Trung Quốc.

Thiết nghĩ đây mới thực sự là điều nguy hại nhất.

Không nên chính trị hóa các vấn đề pháp lý

Chính trị hóa các vấn đề pháp lý là thủ thuật được nhà nước và truyền thông Trung Quốc thường xuyên sử dụng trong việc đánh tráo bản chất các tranh chấp pháp lý hòng dễ bề thao túng và lèo lái dư luận theo ý họ.

Người viết thiết nghĩ, dư luận Việt Nam chắc hẳn không lạ gì hàm ý của Trung Quốc khi diễn giải về "đại cục - tiểu cục", không lạ gì cách diễn giải của Bắc Kinh về phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh "đại cục - tiểu cục" trong chuyến thăm chính thức Việt Nam năm ngoái, ảnh: AP.

Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích quốc gia dân tộc hợp pháp của Việt Nam, cũng như để bảo vệ tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh căng thẳng, tranh chấp leo thang trên Biển Đông, người viết cho rằng chúng ta phải hiểu phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt ấy trên cơ sở luật pháp quốc tế, thực tiễn quan hệ quốc tế hiện đại.

Rõ ràng phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt là mong muốn của nhân dân hai nước, tuy nhiên cách ứng xử của nhà nước Trung Quốc phù hợp với phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt mà họ đã cam kết với Việt Nam hay chưa, đã phù hợp với luật pháp quốc tế, quan hệ quốc tế hiện đại chưa là câu chuyện khác.

Với những hành động xâm phạm hoặc gây tổn hại đến độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam từ phía Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia nào chúng ta cũng đều phải kiên quyết đấu tranh chống lại trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Với Trung Quốc, phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt chính là cái để chúng ta bám vào, kéo Trung Quốc trở lại bàn đàm phán và đấu tranh, phân tích, yêu cầu họ thực hiện đúng tinh thần, phương châm ấy.

Do đó nếu hiểu đúng ý nghĩa và khéo vận dụng, thì phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt là vũ khí chúng ta phải nắm lấy để phân tích thiệt hơn, phải quấy với Trung Quốc, chứ không phải kích bác, dè bỉu và làm mất mặt đối phương, đẩy họ vào thế đối đầu với mình.

Đặc biệt là trong bối cảnh chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay. Đó cũng là bài học dựng nước và giữ nước mà cha ông ta để lại.

Tổ tiên người Việt tự hào về truyền thống chống ngoại xâm và bảo vệ bờ cõi chứ không tự cao, tự đại vì đánh nhau và đánh thắng nước lớn. Thắng nước lớn, giữ thể diện cho nước lớn, đấu tranh bằng ngoại giao với nước lớn để giữ vững độc lập - tự chủ - hòa bình - ổn định thì dân tộc này mới có tương lai.

Người viết cho rằng, để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững được hòa bình, ổn định, giải quyết tranh chấp thông qua biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế hiện nay, chúng ta cần nhớ nằm lòng 2 câu dặn dò của cha ông: "Nói phải củ cải cũng nghe", và khi "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!".

Quay trở lại câu chuyện quan hệ Việt - Nga và quan điểm của Đại tá Lê Thế Mẫu: "Đây là nhận định có tính chất xuyên tạc quan điểm của Bộ Ngoại giao Nga, gây hoang mang trong dư luận và làm tổn hại đối với quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga mà vừa qua trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga Thủ tướng nước ta Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định:

“Cá nhân tôi, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng tuyệt đối vào nước bạn Nga”".

Người viết cho rằng, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga là tài sản quý của cả hai dân tộc, được viết nên bằng xương máu, nước mắt và tinh thần đồng chí anh em của không ít thế hệ người dân hai nước Việt Nam và Liên Xô trước đây, cũng như Nga ngày nay.

Cá nhân người viết cho rằng, Đại tá Lê Thế Mẫu và rất nhiều người Việt Nam trân trọng tình cảm ấy, và đang nỗ lực củng cố, vun bồi cho quan hệ giữa hai nước. Người viết hoàn toàn đồng ý và chia sẻ điều này.

Tuy nhiên trong quan hệ quốc tế hiện nay, đặc biệt là đối với các vấn đề liên quan đến lợi ích có tranh chấp, có khác biệt thì tình cảm ấy chỉ nên đóng vai trò nền tảng chính trị tạo bầu không khí thân thiện để hai bên trao đổi hiểu nhau hơn, cảm thông với nhau hơn, hoàn toàn không phải căn cứ để giải quyết khác biệt, bất đồng, mà căn cứ phải là lợi ích quốc gia dân tộc kết hợp luật pháp và công lý quốc tế.

Nói một cách đơn giản, không thể vì ngày trước Liên Xô và Nga giúp đỡ Việt Nam mà ngày nay thấy Nga có lập trường chưa rõ ràng có thể gây tổn hại đến lợi ích chính đáng của Việt Nam mà chúng ta im lặng không nói, để giữ tình hữu nghị.

Dân gian vẫn có câu, tiền bạc phân minh, ái tình dứt khoát. Người viết cho rằng, càng là bạn bè, anh em thân thiết càng cần sự sòng phẳng và minh bạch mới có thể lâu dài.

Bởi chỉ cần một chút mập mờ dính đến lợi ích là có thể gây chia rẽ, phá hủy tình cảm đoàn kết, hữu nghị bao năm mới có được. Thường thì đê chưa vỡ bởi lũ lớn đã vỡ bởi tổ mối trong thân đê.

Cũng như trong quan hệ với Trung Quốc, tiếp tục đấu tranh đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, 7 thực thể ở Trường Sa, ôn lại những bài học thăng trầm trong lịch sử cận đại quan hệ hai nước như cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 - 1989 hay việc Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974, Gạc Ma năm 1988 không có nghĩa là chống phá quan hệ Việt -  Trung.

Lịch sử là lịch sử, chúng ta không thay đổi được. Nhưng muốn thay đổi tương lai tốt đẹp hơn trước hiện tại còn những bất đồng, tranh chấp gay gắt ngoài Biển Đông, thì không thể không rút ra những bài học khách quan, nghiêm túc, cầu thị từ lịch sử. 

Rõ ràng điều này có lợi cho cả hai, góp phần xoa dịu nỗi đau quá khứ, ám ảnh chiến tranh thì mới có được lòng tin chiến lược để hợp tác lâu dài.

Nga và Trung Quốc là hai đối tác chiến lược toàn diện duy nhất của Việt Nam cho đến nay, nhưng điều đó không có nghĩa là rào cản để chúng ta triệt tiêu đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia dân tộc mình, hòa bình và ổn định của khu vực và luật pháp, công lý quốc tế.

Chúng ta giữ tình cảm nồng ấm, chân thành trong quan hệ với các bạn bè và đối tác, nhưng phải luôn giữ được cái đầu lạnh mới mong tránh khỏi những cái bẫy ai đó giăng ra.

Trang lyluanchinhtri.vn của Cơ quan Nghiên cứu và Ngôn luận Khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày 21/12/2015 đăng bài viết: "Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", trong đó nhắc đến chuyện:

"Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia.

Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận. 

Tại Hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố:

“Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(1).

Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu".

Còn theo Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, thì ngay cả khi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ở giai đoạn tốt đẹp nhất, Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng tuyến đường sắt liên vận Việt - Trung, họ đã cố tình gài bẫy bằng cách đặt điểm nối ray giữa đường sắt 2 nước vào sâu lãnh thổ Việt Nam 300 mét, gây ra những tranh chấp phức tạp sau này.

Do đó người viết không phản đối, mà ngược lại còn rất đồng tình, ủng hộ và chia sẻ những mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là các quốc gia bạn bè truyền thống như Liên bang Nga.

Chỉ xin lưu ý một điều, chúng ta cứ ứng xử với nhau một cách minh bạch và sòng phẳng trên cơ sở luật pháp quốc tế là cách bảo vệ tình hữu nghị tốt nhất, lâu bền nhất.

Người viết thiết nghĩ, đó mới chính là hàm ý "vừa hợp tác, vừa đấu tranh" mà nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập và được dư luận đồng thuận, chia sẻ rộng rãi.

Người viết hoàn toàn chia sẻ với quan điểm của Đại tá Lê Thế Mẫu rằng:

"Thiết nghĩ, trong thời điểm hiện nay, chúng ta cần tranh thủ tất cả những ai có quan điểm tương đồng với Việt Nam để hình thành mặt trận rộng rãi ủng hộ chúng ta trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông-một cuộc đấu tranh không cân sức, lâu dài, khó khăn và phức tạp, chứ không nên có hành động gây chia rẽ Việt Nam với các bàn bè và đối tác, trong đó Nga lại là một đối tác chiến lược toàn diện."

Tuy nhiên người viết lưu ý thêm, một là việc làm thế nào để tranh thủ sự ủng hộ của các nước bao gồm Nga thì mỗi người có một giải pháp khác nhau, suy nghĩ khác nhau, nhưng phải biết đặt độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, luật pháp và công lý quốc tế lên trên những mối quan hệ cá nhân, hành xử theo luật pháp mới có thể đạt được mục tiêu mà vẫn giữ dược tình hữu nghị.

Và người viết cũng một lần nữa xin bổ sung thêm ý Đại tá Lê Thế Mẫu rằng, trong giai đoạn hiện nay bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hợp pháp trên Biển Đông theo đúng UNCLOS là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và khả thi hơn cả.

Phán quyết của PCA sẽ cung cấp cho Việt Nam và các bên liên quan một đòn bẩy pháp lý quan trọng trong công cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ ấy. Tuy nhiên có nắm lấy cơ hội, đòn bẩy pháp lý ấy không phụ thuộc vào nhận thức của chính mỗi chúng ta.

Hồng Thủy 

(Giáo Dục)

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Mỹ sắp triển khai đồng thời hai cụm tác chiến tàu sân bay ở Biển Đông đề phòng bất trắc
National Interest (Mỹ) ngày 10/6 nhận định, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Carter và đô đốc Tôn Kiến Quốc tại Đối thoại Shangri - La làm nổi bật đứt gãy chiến lược sâu sắc trong khu vực và Biển Đông đã trở thành chiến trường mới của ở châu Á. GS Richard Javad Heydarian thắc mắc phài chăng Trung Quốc chống lại cả thế giới?

“Thái Bình Dương rộng lớn đủ chỗ cho cả hai nước lớn như Mỹ và Trung Quốc”, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố như vậy trong cuộc gặp với tổng thống Mỹ Barack Obama tại Sunnylands năm 2013. Lạc quan về một kỷ nguyên hợp tác mới, ông Tập đề xuất một “mô thức quan hệ nước lớn kiểu mới”.

Ba năm sau, hai nước Mỹ và Trung Quốc va chạm nhau ở Biển Đông, tuyến hải lộ quan trọng nhất thế giới. Sự kình địch Mỹ-Trung ngày càng tăng và những phản ứng của khu vực đã bộc lộ tại Đối thoại Shangri-La mới đây, nơi các quan chức lãnh đạo quốc phòng và chuyên gia thế giới gặp nhau tại Singapore.

Mặc dù bớt gay gắt hơn trông đợi, phát biểu của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ash Carter là sự nỗ lực biện minh cho sự tăng cường hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Á, cũng như tăng cường liên minh an ninh với một loạt các cường quốc khu vực. Ông nói về những ưu thế quân sự vượt trội tiên phong của Mỹ, như đội tàu ngầm không người lái mới thuộc lớp Virginia, loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa mới B-21. Giới thiệu Mỹ như một siêu cường ôn hòa, ông Carter cổ súy mong muốn chia sẻ những năng lực tối tân với các đối tác tại châu Á-Thái Bình Dương , đặc biệt là Nhật Bản và Úc.

Tuy nhiên, ông chủ Lầu Năm Góc tỏ ra cứng rắn khi nói về Trung Quốc và những tham vọng khu vực ngày càng tăng của Bắc Kinh. Ông Carter công khai cáo buộc Trung Quốc về những hành động hung hăng chưa từng có tiền lệ khiến người ta nghi ngờ những ý đồ chiến lược của nước này. Ông cảnh báo, nếu những hành động này tiếp tục, Trung Quốc rút cuộc sẽ tự dựng bức Trường Thành tự cô lập. Ông xem những hành động của Trung Quốc là khiêu khích, gây bất ổn và tự cô lập.

Theo National Interest, bộ trưởng quốc phòng các nước phương Tây và khu vực từ Pháp tới Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam cũng đều bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc tăng cường quân sự hóa Biển Đông. Chỉ trong hai năm qua, Trung Quốc đã bồi lấp 3.200 mẫu Anh (1.295 ha) trong vùng biển tranh chấp, ráo riết xây dựng phi pháp những hòn đảo nhân tạo khồng lồ.

Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã triển khai những loại vũ khí tiên tiến tới một số đảo tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ các hệ thống radar cao tần tới tên lửa phòng không cho đến chiến đấu cơ phản lực. Việc Trung Quốc tăng cường lực lượng dân quân biển cũng là một nguồn gây quan ngại khác. Trong bối cảnh Trung Quốc ráo riết xây dựng hệ thống quân sự tại khu vực, dư luận ngày càng lo ngại Trung Quốc sẽ sớm ở tuyến bố thiết lập một “vùng miễn trừ”, từ chối các chuyến bay tự do cũng như lưu thông hàng hải đối với các lực lượng quân sự khu vực cũng như thế giới.


Cụm tác chiến tàu sân bay Stennis đang hoạt động ở Biển Đông

Siêu tàu khu trục hạm trị giá 4 tỷ USD này cũng sẽ sớm có mặt tại châu Á-Thái Bình Dương

Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Carter đã 38 lần nhắc tới từ “nguyên tắc”, cố gắng vạch rõ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông như một mối đe dọa đối với luật pháp quốc tế và lợi ích rộng lớn hơn của cộng đồng quốc tế, đặc biệt khi nó trở thành lợi ích chung toàn cầu như tự do hàng hải và hàng không.

Một chủ đề thường xuyên xuất hiện trong các phát biểu và trao đổi giữa các quan chức quốc phòng hàng đầu là vụ Philippines kiện “đường lưỡi bò” ngang ngược và phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Manila đã khởi kiện Bắc Kinh ra Tòa án Trọng tài Thường trực quốc tế theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển vào năm 2013, ít tháng sau vụ tranh chấp nguy hiểm giữa hai nước tại bãi cạn Scarborough.

Trước thời điểm tòa ra phán quyết, nhóm các nước công nghiệp phát triển G7, Úc và hầu như toàn bộ các tay chơi đáng kể trong khu vực đều hoặc công khai hoặc gián tiếp bày tỏ sự ủng hộ phán quyết của tòa án quốc tế.

Trong cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần đầu tiên tổ chức hồi đầu năm nay, cả hai bên đều coi luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS là vấn đề then chốt trong giải quyết tranh chấp Biển Đông. Tuyên bố chung kêu gọi triệt để tôn trọng hành động pháp lý của các bên liên quan. Trước sự lo lắng của Trung Quốc, các nước mạnh ở Đông Nam Á khác như Indonesia và Việt Nam vẫn đang theo sát diễn biến vụ kiện của Philippines cũng có thể tiến hành bước đi tương tự, National Interest nhận định.

Đáp trả, Trung Quốc tìm cách phá tính hợp pháp của tòa án quốc tế bằng cách xây dựng một liên minh quốc tế ủng hộ, tập hợp khoảng 40 quốc gia hầu hết là những nước nghèo, nằm sâu trong lục địa và không có biển hòng vận động các nước này ủng hộ quan điểm sai trái về Biển Đông.

Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Tôn Kiến Quốc lớn tiếng tại Đối thoại Shangri-La rằng: “Chúng tôi không bị cô lập trong quá khứ, không bị cô lập hiện nay và cũng sẽ không bị cô lập trong tương lai”. Tôn Kiến Quốc cho rằng Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm toàn cầu. Tôn còn cáo buộc Philippines là nước đầu tiên xâm chiếm Biển Đông và đang hủy hoại hòa bình khu vực bằng việc khởi kiện ra tòa mà không có sự đồng thuận của Trung Quốc.

Nhắc lại luận điểm quen thuộc rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc dựa trên chứng cứ lịch sử, điều mà hầu như chẳng chuyên gia về Trung Quốc nào thừa nhận, Tôn Kiến Quốc còn tố cáo Mỹ và các đồng minh áp dụng tâm lý Chiến tranh Lạnh và thành kiến, đồng thời cảnh báo rằng Trung Quốc “không sợ rắc rối”. Tôn chối bỏ Trung Quốc không chịu trách nhiệm về tình hình căng thẳng dâng cao trong khu vực, rằng Trung Quốc không có tham vọng bá quyền. Tôn cũng tố cáo Mỹ và đồng minh “khiêu khích” và theo đuổi những lợi ích ích kỷ của bản thân.

Tôn còn cao giọng nói rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ gây đe dọa đối với tự do hàng hải ở bất cứ tuyến hải lộ quốc tế nào, đặc biệt là ở Biển Đông (điều mà chẳng ai dám tin). National Interest kết luận hai bài phát biểu quan trọng nhất của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Carter và Tôn Kiến Quốc đã làm nổi bật đứt gãy chiến lược sâu sắc trong khu vực và Biển Đông đã trở thành chiến trường mới của ở châu Á.

Thục Ninh

(VietTimes)
20:09 Unknown
Mỹ sắp triển khai đồng thời hai cụm tác chiến tàu sân bay ở Biển Đông đề phòng bất trắc
National Interest (Mỹ) ngày 10/6 nhận định, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Carter và đô đốc Tôn Kiến Quốc tại Đối thoại Shangri - La làm nổi bật đứt gãy chiến lược sâu sắc trong khu vực và Biển Đông đã trở thành chiến trường mới của ở châu Á. GS Richard Javad Heydarian thắc mắc phài chăng Trung Quốc chống lại cả thế giới?

“Thái Bình Dương rộng lớn đủ chỗ cho cả hai nước lớn như Mỹ và Trung Quốc”, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố như vậy trong cuộc gặp với tổng thống Mỹ Barack Obama tại Sunnylands năm 2013. Lạc quan về một kỷ nguyên hợp tác mới, ông Tập đề xuất một “mô thức quan hệ nước lớn kiểu mới”.

Ba năm sau, hai nước Mỹ và Trung Quốc va chạm nhau ở Biển Đông, tuyến hải lộ quan trọng nhất thế giới. Sự kình địch Mỹ-Trung ngày càng tăng và những phản ứng của khu vực đã bộc lộ tại Đối thoại Shangri-La mới đây, nơi các quan chức lãnh đạo quốc phòng và chuyên gia thế giới gặp nhau tại Singapore.

Mặc dù bớt gay gắt hơn trông đợi, phát biểu của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ash Carter là sự nỗ lực biện minh cho sự tăng cường hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Á, cũng như tăng cường liên minh an ninh với một loạt các cường quốc khu vực. Ông nói về những ưu thế quân sự vượt trội tiên phong của Mỹ, như đội tàu ngầm không người lái mới thuộc lớp Virginia, loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa mới B-21. Giới thiệu Mỹ như một siêu cường ôn hòa, ông Carter cổ súy mong muốn chia sẻ những năng lực tối tân với các đối tác tại châu Á-Thái Bình Dương , đặc biệt là Nhật Bản và Úc.

Tuy nhiên, ông chủ Lầu Năm Góc tỏ ra cứng rắn khi nói về Trung Quốc và những tham vọng khu vực ngày càng tăng của Bắc Kinh. Ông Carter công khai cáo buộc Trung Quốc về những hành động hung hăng chưa từng có tiền lệ khiến người ta nghi ngờ những ý đồ chiến lược của nước này. Ông cảnh báo, nếu những hành động này tiếp tục, Trung Quốc rút cuộc sẽ tự dựng bức Trường Thành tự cô lập. Ông xem những hành động của Trung Quốc là khiêu khích, gây bất ổn và tự cô lập.

Theo National Interest, bộ trưởng quốc phòng các nước phương Tây và khu vực từ Pháp tới Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam cũng đều bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc tăng cường quân sự hóa Biển Đông. Chỉ trong hai năm qua, Trung Quốc đã bồi lấp 3.200 mẫu Anh (1.295 ha) trong vùng biển tranh chấp, ráo riết xây dựng phi pháp những hòn đảo nhân tạo khồng lồ.

Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã triển khai những loại vũ khí tiên tiến tới một số đảo tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ các hệ thống radar cao tần tới tên lửa phòng không cho đến chiến đấu cơ phản lực. Việc Trung Quốc tăng cường lực lượng dân quân biển cũng là một nguồn gây quan ngại khác. Trong bối cảnh Trung Quốc ráo riết xây dựng hệ thống quân sự tại khu vực, dư luận ngày càng lo ngại Trung Quốc sẽ sớm ở tuyến bố thiết lập một “vùng miễn trừ”, từ chối các chuyến bay tự do cũng như lưu thông hàng hải đối với các lực lượng quân sự khu vực cũng như thế giới.


Cụm tác chiến tàu sân bay Stennis đang hoạt động ở Biển Đông

Siêu tàu khu trục hạm trị giá 4 tỷ USD này cũng sẽ sớm có mặt tại châu Á-Thái Bình Dương

Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Carter đã 38 lần nhắc tới từ “nguyên tắc”, cố gắng vạch rõ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông như một mối đe dọa đối với luật pháp quốc tế và lợi ích rộng lớn hơn của cộng đồng quốc tế, đặc biệt khi nó trở thành lợi ích chung toàn cầu như tự do hàng hải và hàng không.

Một chủ đề thường xuyên xuất hiện trong các phát biểu và trao đổi giữa các quan chức quốc phòng hàng đầu là vụ Philippines kiện “đường lưỡi bò” ngang ngược và phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Manila đã khởi kiện Bắc Kinh ra Tòa án Trọng tài Thường trực quốc tế theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển vào năm 2013, ít tháng sau vụ tranh chấp nguy hiểm giữa hai nước tại bãi cạn Scarborough.

Trước thời điểm tòa ra phán quyết, nhóm các nước công nghiệp phát triển G7, Úc và hầu như toàn bộ các tay chơi đáng kể trong khu vực đều hoặc công khai hoặc gián tiếp bày tỏ sự ủng hộ phán quyết của tòa án quốc tế.

Trong cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần đầu tiên tổ chức hồi đầu năm nay, cả hai bên đều coi luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS là vấn đề then chốt trong giải quyết tranh chấp Biển Đông. Tuyên bố chung kêu gọi triệt để tôn trọng hành động pháp lý của các bên liên quan. Trước sự lo lắng của Trung Quốc, các nước mạnh ở Đông Nam Á khác như Indonesia và Việt Nam vẫn đang theo sát diễn biến vụ kiện của Philippines cũng có thể tiến hành bước đi tương tự, National Interest nhận định.

Đáp trả, Trung Quốc tìm cách phá tính hợp pháp của tòa án quốc tế bằng cách xây dựng một liên minh quốc tế ủng hộ, tập hợp khoảng 40 quốc gia hầu hết là những nước nghèo, nằm sâu trong lục địa và không có biển hòng vận động các nước này ủng hộ quan điểm sai trái về Biển Đông.

Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Tôn Kiến Quốc lớn tiếng tại Đối thoại Shangri-La rằng: “Chúng tôi không bị cô lập trong quá khứ, không bị cô lập hiện nay và cũng sẽ không bị cô lập trong tương lai”. Tôn Kiến Quốc cho rằng Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm toàn cầu. Tôn còn cáo buộc Philippines là nước đầu tiên xâm chiếm Biển Đông và đang hủy hoại hòa bình khu vực bằng việc khởi kiện ra tòa mà không có sự đồng thuận của Trung Quốc.

Nhắc lại luận điểm quen thuộc rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc dựa trên chứng cứ lịch sử, điều mà hầu như chẳng chuyên gia về Trung Quốc nào thừa nhận, Tôn Kiến Quốc còn tố cáo Mỹ và các đồng minh áp dụng tâm lý Chiến tranh Lạnh và thành kiến, đồng thời cảnh báo rằng Trung Quốc “không sợ rắc rối”. Tôn chối bỏ Trung Quốc không chịu trách nhiệm về tình hình căng thẳng dâng cao trong khu vực, rằng Trung Quốc không có tham vọng bá quyền. Tôn cũng tố cáo Mỹ và đồng minh “khiêu khích” và theo đuổi những lợi ích ích kỷ của bản thân.

Tôn còn cao giọng nói rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ gây đe dọa đối với tự do hàng hải ở bất cứ tuyến hải lộ quốc tế nào, đặc biệt là ở Biển Đông (điều mà chẳng ai dám tin). National Interest kết luận hai bài phát biểu quan trọng nhất của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Carter và Tôn Kiến Quốc đã làm nổi bật đứt gãy chiến lược sâu sắc trong khu vực và Biển Đông đã trở thành chiến trường mới của ở châu Á.

Thục Ninh

(VietTimes)
media
         Đại sứ Trung Quốc tại Luân Đôn Lưu Hiểu Minh trả lời báo Anh Daily Telegraph.


Càng gần đến ngày Tòa án Trọng tài Thường trực ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông, Bắc Kinh càng lên tiếng yêu cầu các nước ngoài vùng này ngưng can thiệp vào tranh chấp.

Trong một bài viết đăng trên nhật báo Anh Daily Telegraph số ra ngày 10/06/2016, đại sứ Trung Quốc tại Luân Đôn Lưu Hiểu Minh đã kêu gọi Philippines trở lại một giải pháp thương lượng cho vấn đề Biển Đông, đồng thời yêu cầu một số nước ngoài vùng này « ngưng đùa với lửa ».

Trong bài viết, đại sứ Trung Quốc bác bỏ lập luận cho rằng việc Bắc Kinh không thi hành phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực sẽ gây phương hại đến hệ thống quốc tế dựa trên luật pháp và đe dọa đến hòa bình và ổn định trong vùng. Ông Lưu Hiểu Minh viết rằng, vụ kiện này do Philippines đơn phương tiến hành và đây là một mưu toan nhằm « hợp thức hóa việc nước này chiếm đóng trái phép các đá và đảo của Nam Sa (Trường Sa) ».

Ông Lưu Hiểu Minh đã ám chỉ Hoa Kỳ khi viết : « Trong nhiều năm qua, một nước ngoài vùng này đã gia tăng chiến lược tái cân bằng ở châu Á-Thái Bình Dương. Các chính trị gia của nước đó đã có những tuyên bố mang tính gây hấn khi nói về vấn đề Biển Đông. Quân đội của họ cũng đã can thiệp ồ ạt vào Biển Đông và các vùng chung quanh ». Đại sứ Trung Quốc ở Luân Đôn còn chỉ trích Hoa Kỳ vẫn chưa ký Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, nhưng lại cứ cáo buộc Bắc Kinh là không tôn trọng luật pháp quốc tế.

Vị đại sứ Trung Quốc tại Anh nhắc lại lập trường của Bắc Kinh là Tòa án Trọng tài Thường trực không có thẩm quyền xét xử vụ kiện của Philippines và tòa án đã lạm quyền khi chấp nhận xét xử vụ này.

Trung Quốc đặt phao báo động sóng thần ở Biển Đông

Hãng tin PTI của Ấn Độ ngày 11/06/2016, trích dẫn giám đốc trung tâm báo động sóng thần của Cục Hải dương Nhà nước Trung Quốc cho biết Bắc Kinh dự định sẽ đặt các phao báo động sóng thần tại vùng Biển Đông đang tranh chấp và cũng như tại vùng biển phía đông quần đảo Ryukyu của Nhật và vùng quần đảo Đài Loan.

Quan chức này cho biết, hệ thống phao nói trên sẽ kết nối với các hệ thống báo động sóng thần của quốc tế và sẽ báo động sớm cho các vùng bờ biển phía nam, phía đông của Trung Quốc và các nước lân cận.

Thanh Phương

(RFI)
16:00 Unknown
media
         Đại sứ Trung Quốc tại Luân Đôn Lưu Hiểu Minh trả lời báo Anh Daily Telegraph.


Càng gần đến ngày Tòa án Trọng tài Thường trực ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông, Bắc Kinh càng lên tiếng yêu cầu các nước ngoài vùng này ngưng can thiệp vào tranh chấp.

Trong một bài viết đăng trên nhật báo Anh Daily Telegraph số ra ngày 10/06/2016, đại sứ Trung Quốc tại Luân Đôn Lưu Hiểu Minh đã kêu gọi Philippines trở lại một giải pháp thương lượng cho vấn đề Biển Đông, đồng thời yêu cầu một số nước ngoài vùng này « ngưng đùa với lửa ».

Trong bài viết, đại sứ Trung Quốc bác bỏ lập luận cho rằng việc Bắc Kinh không thi hành phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực sẽ gây phương hại đến hệ thống quốc tế dựa trên luật pháp và đe dọa đến hòa bình và ổn định trong vùng. Ông Lưu Hiểu Minh viết rằng, vụ kiện này do Philippines đơn phương tiến hành và đây là một mưu toan nhằm « hợp thức hóa việc nước này chiếm đóng trái phép các đá và đảo của Nam Sa (Trường Sa) ».

Ông Lưu Hiểu Minh đã ám chỉ Hoa Kỳ khi viết : « Trong nhiều năm qua, một nước ngoài vùng này đã gia tăng chiến lược tái cân bằng ở châu Á-Thái Bình Dương. Các chính trị gia của nước đó đã có những tuyên bố mang tính gây hấn khi nói về vấn đề Biển Đông. Quân đội của họ cũng đã can thiệp ồ ạt vào Biển Đông và các vùng chung quanh ». Đại sứ Trung Quốc ở Luân Đôn còn chỉ trích Hoa Kỳ vẫn chưa ký Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, nhưng lại cứ cáo buộc Bắc Kinh là không tôn trọng luật pháp quốc tế.

Vị đại sứ Trung Quốc tại Anh nhắc lại lập trường của Bắc Kinh là Tòa án Trọng tài Thường trực không có thẩm quyền xét xử vụ kiện của Philippines và tòa án đã lạm quyền khi chấp nhận xét xử vụ này.

Trung Quốc đặt phao báo động sóng thần ở Biển Đông

Hãng tin PTI của Ấn Độ ngày 11/06/2016, trích dẫn giám đốc trung tâm báo động sóng thần của Cục Hải dương Nhà nước Trung Quốc cho biết Bắc Kinh dự định sẽ đặt các phao báo động sóng thần tại vùng Biển Đông đang tranh chấp và cũng như tại vùng biển phía đông quần đảo Ryukyu của Nhật và vùng quần đảo Đài Loan.

Quan chức này cho biết, hệ thống phao nói trên sẽ kết nối với các hệ thống báo động sóng thần của quốc tế và sẽ báo động sớm cho các vùng bờ biển phía nam, phía đông của Trung Quốc và các nước lân cận.

Thanh Phương

(RFI)

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Hải quân Mỹ cho biết lực lượng tàu ngầm của họ sẽ nhắm vào các mục tiêu quan trọng như đảo Phú Lâm, căn cứ Du Lâm và ngay cả các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo chống tàu trên bờ biển Trung Quốc nếu xảy ra chiến sự.

Trong khi đó, quân đội Trung Quốc đang nỗ lực để giành lợi thế trước Mỹ và đồng minh nhưng điều đó có vẻ như khá xa vời.

Đây là một kết luận từ bản báo cáo dài 430 trang của RAND công bố gần đây, được soạn thảo bởi 14 học giả và có tên gọi là "Tương quan quân sự Mỹ-Trung : Lực lượng, địa lý và sự phát triển cân bằng sức mạnh, giai đoạn từ 1996-2017".

Hình minh họa
Những nghiên cứu nhấn mạnh rằng Trung Quốc đạt được những tiến bộ với tốc độ đáng ngạc nhiên trong hầu hết các lĩnh vực quân sự, nhưng nhấn mạnh lực lượng quân sự Mỹ vẫn luôn giữ được ưu thế trong hầu hết các tiêu chí về quân sự và quốc phòng.

Cụ thể hơn, các học giả của RAND phân tích mười tiêu chí khác nhau của năng lực quân sự được cho là rất quan trọng trong những tình huống một cuộc xung đột Trung-Mỹ trên quần đảo Trường Sa, nghiên cứu những khả năng có thể xảy ra trong bốn khoảng thời gian khác nhau từ năm 1996 đến năm 2017. Các phân tích đặc biệt chú ý đến vị trí địa lý và khoảng cách thời gian trong mỗi kịch bản.

Trong các kịch bản xung đột, các chuyên gia RAND đã phân tích ưu thế và nhược điểm của cả hai lực lượng Trung – Mỹ theo mười tiêu chí trong từng giai đoạn thời gian mà theo đó, mỗi bên có thể đạt được mục đích chính trị đề ra, bên còn lại sẽ gặp nhiều khó khăn và không thể đạt được.

Mười tiêu chí đó bao gồm: Tập kích căn cứ không quân Trung Quốc, ưu thế tác chiến đường không của Mỹ với Trung Quốc, khả năng Mỹ thâm nhập không phận, tập kích đường không không phận Mỹ, chiến tranh chống tấn công bề mặt của Trung Quốc, chiến tranh chống tác chiến bề mặt của Mỹ, tấn công trên tầng không gian Mỹ, tấn công trên tầng không gian Trung Quốc, Mỹ và Trung Quốc trong chiến tranh mạng, năng lực tấn công hạt nhân.

Xét trên không gian chiến trường Thái Bình Dương, Mỹ chiếm ưu thế vượt trội trên mọi lĩnh vực, nhưng trong không gian chiến trường hẹp như biển Đông và quần đảo Trường Sa, các học giả RAND gặp những khó khăn nhất định.

Nhìn từ góc độ đấu tranh địa chính trị, cả Mỹ và Trung Quốc mặc dù có nhiều mâu thuẫn khác nhau, nhưng cả hai bên đều không sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn diện, nhưng hai lực lượng đang lao vào một cuộc đấu tranh ác liệt giành lợi thế kiểm soát chiến trường đặc biệt quan trọng có trị giá thương mại đến 5000 tỷ USD này.

Tình đến giai đoạn năm 1996, Mỹ đã thành công trong việc thiết lập một vành đai bao vây kiềm chế Trung Quốc bằng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ các nước đồng minh và đe dọa kiểm soát mọi hoạt động phát triển kinh tế và sức mạnh quốc phòng. Sự phát triển nhanh chóng sức mạnh quân sự Trung Quốc trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo, không quân, hải quân và các lĩnh vực khác dường như đã đẩy tầm ảnh hưởng của Mỹ khỏi vùng nước biển Đông, các tàu sân bay Mỹ đang nằm trong tầm tên lửa đạn đạo chống tàu của Trung Quốc, sự xuất hiện những đảo nhân tạo có đường băng quân sự tiếp tục củng cố vững chắc quan điểm chiến lược 2D/AD của Bắc Kinh trên vùng nước Biển Đông.

Từ góc độ nhận xét của các học giả RAND, có thể nhận thấy: Nếu trong một cuộc xung đột cục bộ thời gian ngắn trên một vùng nước hẹp như biển Đông, Trung Quốc dường như có thể đẩy lùi được các cụm tàu sân bay tấn công chủ lực ra khỏi vùng nước biển Đông và khống chế toàn bộ khu vực bằng lực lượng không quân hải quân xuất phát từ các sân bay mới được xây dựng.

Nhưng lực lượng thực sự ngăn cản hải quân Trung Quốc thực hiện điều này nằm sâu trong lòng biển Đông, đó là hạm đội tàu ngầm của Hải quân Mỹ, lực lượng mà sức mạnh hỏa lực có thể nhanh chóng phá hủy hoàn toàn các cơ sở hạ tầng quân sự, căn cứ sân bay và các đơn vị tên lửa chiến lược của Trung Quốc trong loạt phóng tên lửa hành trình Tomahawk đầu tiên.

Nếu trong tính toán của các học giả RAND có đưa yếu tố tàu ngầm tấn công hạt nhân vào bài toán chiến lược chiến dịch Biển Đông, khả năng Trung Quốc có thể tiến hành một cuộc xung đột giới hạn hẹp là rất thấp:

Tương quan lực lượng tàu ngầm

Tương quan lực lượng tàu ngầm: Trung Quốc hiện có 70 chiếc tàu ngầm, trong đó có 3 chiếc tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Hán Type 091 phát triển từ những năm 1970, 6 chiếc lớp Thượng Type 093 phát triển từ những năm 1980 và gần đây nhất đã phát triển thêm 3 chiếc lớp Thượng Type 093G , Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển tàu ngầm nguyên tử tấn công Type – 095 với số lượng 5 chiếc đến năm 2020.

Ngoài ra Trung Quốc có khoảng 12 tàu ngầm diesel điện lớp Kilo, 13 chiếc lớp Tống, 2 chiếc lớp Nguyên Type 041, 6 chiếc lớp Romeo Type 033, 17 chiếc lớp Minh Type 035G, 1 chiếc SSG (mang tên lửa dẫn đường)- Tổng số tàu ngầm diesel điện khoảng 51 chiếc các loại.

Tất cả các tàu ngầm Trung Quốc, ngoại trừ Type 095 đều là những chiến hạm đã có nhiều thời gian sử dụng, nếu không tính các tàu ngầm diesel điện lớp Kilo của Nga thì các tàu của Trung Quốc có đặc điểm là tiếng ồn lớn, rất dễ bị phát hiện. Các tàu ngầm tấn công của Trung Quốc được mang tên lửa chống tàu, nếu tính cả tên lửa Club – S do Nga cung cấp thì tầm bắn đến khoảng 300 km.

Hoạt động trực tiếp trên chiến trường Biển Đông, lực lượng tàu ngầm Mỹ có thể tham chiến nhanh chóng là lực lượng tàu ngầm Hạm đội 7 có 4 chiếc tàu ngầm nguyên tử lớp Los Angeles, ngoài các vũ khí trên biển thông thường còn có 12 ống phóng tên lửa hành trình Tomahawk có tầm bắn từ 1.300 km đến 1.700 km. Lực lượng chủ lực trên Biển Đông là lực lượng tàu ngầm của hạm đội 3 với 22 tàu ngầm lớp Los Angeles và Virgina mang được tên lửa hành trình Tomahawk, 3 chiếc Seawolf chống ngầm và hai chiếc tàu ngầm lớp Ohio mang 154 tên lửa hành trình Tomahawk.

Hạm đội 3 Hải quân Mỹ là hạm đội có lực lượng tên lửa hành trình tấn công mặt đất mạnh nhất và cũng là hạm đội tàu ngầm có khả năng chống ngầm tốt nhất. Với các tàu ngầm theo biên chế, lực lượng tàu ngầm của hạm đội 3 Hải quân Mỹ và hạm đội 7 hoàn toàn khống chế được vùng nước biển Hoa Đông, Biển Đông và hướng ra eo biển Malacca.

Đại đa số các tàu ngầm lớp Los Angeles được phát triển từ năm 1972 đến năm 1996, là lớp tàu tấn công chủ lực của Hải quân Mỹ và cũng là lớp tàu thành công nhất trong lực lượng tàu ngầm Mỹ.

Sức mạnh lực lượng chống ngầm

Biển Đông, biển Hoa Đông là nơi lực lượng tàu ngầm hạm đội 7 và 3 hoạt động mạnh nhất, trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đến những năm đầu của thế kỷ 21. Vịnh Cam Ranh là quân cảng và cũng là căn cứ của lực lượng hải quân Liên xô, chính vì vậy, tại Biển Đông, Mỹ đã thường xuyên tiến hành các hoạt động tuần tiễu sẵn sàng chiến đấu của tàu ngầm Mỹ, đồng thời các hoạt động chống ngầm ở khu vực đã giúp cho người Mỹ theo dõi rất sát các hoạt động của tàu ngầm đối phương, bao gồm cả tàu ngầm của Liên xô và Trung Quốc

Trong giai đoạn sau này, người Mỹ đã tập trung sự chú ý vào hải cảng quân sự của tàu ngầm Trung Quốc trên đảo Hải Nam, với hệ thống công nghệ chống ngầm hiện đại từ không ảnh vệ tinh, các hệ thống truy tìm, kiểm soát tàu ngầm trên biển Đông. Những vụ va chạm giữa hải quân Trung Quốc và các phương tiện trinh sát, tìm kiếm của Mỹ đã cho thấy rõ điều đó.

Ví dụ: tháng 4.2001, vụ va chạm giữa chiếc máy bay trinh sát điện tử và chống ngầm EP-3 với máy bay tiêm kích J-8 của Trung Quốc, năm 2009 ngư dân Trung Quốc đã tấn công tàu USNS Impeccable và USNS Victorious trong khu vực EEZ, cũng trong tháng 6.2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã va chạm với một tàu khu trục Mỹ kéo theo anten sonar mảng pha. Điều đó cho thấy, lực lượng Hải quân Mỹ theo dõi rất chặt chẽ mọi hoạt động của lực lượng tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông.

Căn cứ của đồng minh

Ngoài những lợi thế về công nghệ, lực lượng tàu ngầm của Mỹ còn được một lợi thế quan trọng hơn trong cuộc chiến ngầm dưới biển Đông, đó là việc được sử dụng các căn cứ của đồng minh.

Trong điều kiện căng thẳng gia tăng, Trung Quốc sẽ buộc phải đưa lực lượng tàu ngầm của mình vào vùng nước biển Đông đến quần đảo Trường Sa. Các hạm tàu mà Trung Quốc có thể sử dụng được chỉ có thể là lực lượng tàu ngầm chiến thuật bao gồm 06 tàu lớp Minh ES5F (Ming); 10 tàu lớp Romeo - Type 033; 04 tàu lớp Tống (Song) Type 039G hoặc 039G1; 01 tàu lớp Kilo. Lực lượng này là tàu ngầm lớp diesel điện phát triển từ những năm 1970, trên thực tế đã lỗi thời và rất dễ bị phát hiện đo tiếng ồn lớn và khoảng cách phải cơ động khá xa.

Các tàu ngầm nguyên tử lớp Los Angeles Mỹ có thể hành trình lâu dài dưới nước tránh sự phát hiện của không quân Trung Quốc, sử dụng các hải cảng quân sự Philippines. Khoảng cách từ hải cảng này đến Trường Sa rất gần và các tàu ngầm nguyên tử Mỹ có khả năng triển khai nhanh sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu trên khoảng cách giữa quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngoài ra, các tàu ngầm nguyên tử tấn công Mỹ còn có một lợi thế rất lớn là sử dụng các nguồn thông tin tình báo từ các nước đồng minh như Nhật Bản, Philippines, Đài Loan cũng như sự yểm trợ (có thể không tham gia chiến đấu) để phục vụ cho mục đích ngăn chặn tàu ngầm Trung Quốc xuất kích. Không bị ngăn chặn bởi các thành phần lực lượng cấu thành hệ thống AD/2D Trung Quốc, các tàu ngầm nguyên tử Mỹ, trang bị tên lửa Tomahawk có thể tiếp cận được khu vực tấn công thuận lợi nhất, đặt tất cả các cơ sở hạ tầng quân sự và vũ khí trang bị của PLA vào tầm bắn của loại tên lửa hành trình này.

Với những lợi thế trên, trong tình huống xảy ra mâu thuẫn có thể dẫn đến nguy cơ bùng phát chiến tranh dồn nén thời gian, lực lượng tàu ngầm Mỹ sẽ nhằm vào tất cả các mục tiêu quan trọng, từ căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo, đảo Phú Lâm căn cứ Du Lâm quần đảo Hải Nam và ngay cả các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo chống tàu trên bờ biển Trung Quốc.

Điều đó có nghĩa là, nếu xảy ra xung đột giữa Mỹ với Trung Quốc, ngay từ loạt đạn đầu tiên xuất phát từ tàu ngầm có thể hủy diệt tất cả các căn cứ quân sự trên các đảo phi pháp đó, bao gồm cả đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và phong tỏa hoạt động của đảo Hải Nam. Khả năng giành thắng lợi như đẩy lùi lực lượng hải quân Mỹ, phá hủy được tàu chiến hoặc tàu sân bay của Mỹ thực sự rất nhỏ.

Trung Quốc "học bài" Mỹ

Trước nguy cơ đe dọa bằng lực lượng tàu ngầm Mỹ, Trung Quốc cố gắng đáp trả bằng giải pháp xây dựng các sân bay trực thăng trên các đảo nhân tạo nhằm tăng cường khả năng tuần thám chống ngầm. Phối hợp cùng các tàu khu trục mang trực thăng vận tải chống ngầm và máy bay chống ngầm tuần tra trên biển Đông. Hơn thế nữa, Trung Quốc đe dọa sẽ đưa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo đầu đạn hạt nhân vào vùng nước Thái Bình Dương, trên khu vực có thể tấn công vào nước Mỹ. Ngoài ra, Trung Quốc cũng muốn xây dựng một hệ thống chống ngầm tương tự như hệ thống IUSS với thành phần chính là SOSUS của Mỹ trên biển Đông và biển Hoa Đông

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, trong một bài phát biểu ngày 13.5.2016, đề cập đến phương án sử dụng các tàu ngầm không người lái ở Biển Đông, chú trọng đến các vùng nước nông rộng lớn nhằm kiểm soát chặt chẽ lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên vùng biển này.

Trong tương lai, Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng sẵn sàng chiến đấu trên biển Đông với mục đích kiềm chế các hoạt động hạn chế Tự do hàng hải mà Trung Quốc có thể đặt ra. Đồng thời các đơn vị Hải quân bao gồm tàu sân bay, khu trục hạm và đặc biệt quan trọng là lực lượng tàu ngầm sẽ là lực lượng then chốt để răn đe, ngăn chặn và sẵn sàng tấn công trong tình huống cần thiết.

(Vietimes)
23:30 Unknown
Hải quân Mỹ cho biết lực lượng tàu ngầm của họ sẽ nhắm vào các mục tiêu quan trọng như đảo Phú Lâm, căn cứ Du Lâm và ngay cả các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo chống tàu trên bờ biển Trung Quốc nếu xảy ra chiến sự.

Trong khi đó, quân đội Trung Quốc đang nỗ lực để giành lợi thế trước Mỹ và đồng minh nhưng điều đó có vẻ như khá xa vời.

Đây là một kết luận từ bản báo cáo dài 430 trang của RAND công bố gần đây, được soạn thảo bởi 14 học giả và có tên gọi là "Tương quan quân sự Mỹ-Trung : Lực lượng, địa lý và sự phát triển cân bằng sức mạnh, giai đoạn từ 1996-2017".

Hình minh họa
Những nghiên cứu nhấn mạnh rằng Trung Quốc đạt được những tiến bộ với tốc độ đáng ngạc nhiên trong hầu hết các lĩnh vực quân sự, nhưng nhấn mạnh lực lượng quân sự Mỹ vẫn luôn giữ được ưu thế trong hầu hết các tiêu chí về quân sự và quốc phòng.

Cụ thể hơn, các học giả của RAND phân tích mười tiêu chí khác nhau của năng lực quân sự được cho là rất quan trọng trong những tình huống một cuộc xung đột Trung-Mỹ trên quần đảo Trường Sa, nghiên cứu những khả năng có thể xảy ra trong bốn khoảng thời gian khác nhau từ năm 1996 đến năm 2017. Các phân tích đặc biệt chú ý đến vị trí địa lý và khoảng cách thời gian trong mỗi kịch bản.

Trong các kịch bản xung đột, các chuyên gia RAND đã phân tích ưu thế và nhược điểm của cả hai lực lượng Trung – Mỹ theo mười tiêu chí trong từng giai đoạn thời gian mà theo đó, mỗi bên có thể đạt được mục đích chính trị đề ra, bên còn lại sẽ gặp nhiều khó khăn và không thể đạt được.

Mười tiêu chí đó bao gồm: Tập kích căn cứ không quân Trung Quốc, ưu thế tác chiến đường không của Mỹ với Trung Quốc, khả năng Mỹ thâm nhập không phận, tập kích đường không không phận Mỹ, chiến tranh chống tấn công bề mặt của Trung Quốc, chiến tranh chống tác chiến bề mặt của Mỹ, tấn công trên tầng không gian Mỹ, tấn công trên tầng không gian Trung Quốc, Mỹ và Trung Quốc trong chiến tranh mạng, năng lực tấn công hạt nhân.

Xét trên không gian chiến trường Thái Bình Dương, Mỹ chiếm ưu thế vượt trội trên mọi lĩnh vực, nhưng trong không gian chiến trường hẹp như biển Đông và quần đảo Trường Sa, các học giả RAND gặp những khó khăn nhất định.

Nhìn từ góc độ đấu tranh địa chính trị, cả Mỹ và Trung Quốc mặc dù có nhiều mâu thuẫn khác nhau, nhưng cả hai bên đều không sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn diện, nhưng hai lực lượng đang lao vào một cuộc đấu tranh ác liệt giành lợi thế kiểm soát chiến trường đặc biệt quan trọng có trị giá thương mại đến 5000 tỷ USD này.

Tình đến giai đoạn năm 1996, Mỹ đã thành công trong việc thiết lập một vành đai bao vây kiềm chế Trung Quốc bằng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ các nước đồng minh và đe dọa kiểm soát mọi hoạt động phát triển kinh tế và sức mạnh quốc phòng. Sự phát triển nhanh chóng sức mạnh quân sự Trung Quốc trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo, không quân, hải quân và các lĩnh vực khác dường như đã đẩy tầm ảnh hưởng của Mỹ khỏi vùng nước biển Đông, các tàu sân bay Mỹ đang nằm trong tầm tên lửa đạn đạo chống tàu của Trung Quốc, sự xuất hiện những đảo nhân tạo có đường băng quân sự tiếp tục củng cố vững chắc quan điểm chiến lược 2D/AD của Bắc Kinh trên vùng nước Biển Đông.

Từ góc độ nhận xét của các học giả RAND, có thể nhận thấy: Nếu trong một cuộc xung đột cục bộ thời gian ngắn trên một vùng nước hẹp như biển Đông, Trung Quốc dường như có thể đẩy lùi được các cụm tàu sân bay tấn công chủ lực ra khỏi vùng nước biển Đông và khống chế toàn bộ khu vực bằng lực lượng không quân hải quân xuất phát từ các sân bay mới được xây dựng.

Nhưng lực lượng thực sự ngăn cản hải quân Trung Quốc thực hiện điều này nằm sâu trong lòng biển Đông, đó là hạm đội tàu ngầm của Hải quân Mỹ, lực lượng mà sức mạnh hỏa lực có thể nhanh chóng phá hủy hoàn toàn các cơ sở hạ tầng quân sự, căn cứ sân bay và các đơn vị tên lửa chiến lược của Trung Quốc trong loạt phóng tên lửa hành trình Tomahawk đầu tiên.

Nếu trong tính toán của các học giả RAND có đưa yếu tố tàu ngầm tấn công hạt nhân vào bài toán chiến lược chiến dịch Biển Đông, khả năng Trung Quốc có thể tiến hành một cuộc xung đột giới hạn hẹp là rất thấp:

Tương quan lực lượng tàu ngầm

Tương quan lực lượng tàu ngầm: Trung Quốc hiện có 70 chiếc tàu ngầm, trong đó có 3 chiếc tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Hán Type 091 phát triển từ những năm 1970, 6 chiếc lớp Thượng Type 093 phát triển từ những năm 1980 và gần đây nhất đã phát triển thêm 3 chiếc lớp Thượng Type 093G , Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển tàu ngầm nguyên tử tấn công Type – 095 với số lượng 5 chiếc đến năm 2020.

Ngoài ra Trung Quốc có khoảng 12 tàu ngầm diesel điện lớp Kilo, 13 chiếc lớp Tống, 2 chiếc lớp Nguyên Type 041, 6 chiếc lớp Romeo Type 033, 17 chiếc lớp Minh Type 035G, 1 chiếc SSG (mang tên lửa dẫn đường)- Tổng số tàu ngầm diesel điện khoảng 51 chiếc các loại.

Tất cả các tàu ngầm Trung Quốc, ngoại trừ Type 095 đều là những chiến hạm đã có nhiều thời gian sử dụng, nếu không tính các tàu ngầm diesel điện lớp Kilo của Nga thì các tàu của Trung Quốc có đặc điểm là tiếng ồn lớn, rất dễ bị phát hiện. Các tàu ngầm tấn công của Trung Quốc được mang tên lửa chống tàu, nếu tính cả tên lửa Club – S do Nga cung cấp thì tầm bắn đến khoảng 300 km.

Hoạt động trực tiếp trên chiến trường Biển Đông, lực lượng tàu ngầm Mỹ có thể tham chiến nhanh chóng là lực lượng tàu ngầm Hạm đội 7 có 4 chiếc tàu ngầm nguyên tử lớp Los Angeles, ngoài các vũ khí trên biển thông thường còn có 12 ống phóng tên lửa hành trình Tomahawk có tầm bắn từ 1.300 km đến 1.700 km. Lực lượng chủ lực trên Biển Đông là lực lượng tàu ngầm của hạm đội 3 với 22 tàu ngầm lớp Los Angeles và Virgina mang được tên lửa hành trình Tomahawk, 3 chiếc Seawolf chống ngầm và hai chiếc tàu ngầm lớp Ohio mang 154 tên lửa hành trình Tomahawk.

Hạm đội 3 Hải quân Mỹ là hạm đội có lực lượng tên lửa hành trình tấn công mặt đất mạnh nhất và cũng là hạm đội tàu ngầm có khả năng chống ngầm tốt nhất. Với các tàu ngầm theo biên chế, lực lượng tàu ngầm của hạm đội 3 Hải quân Mỹ và hạm đội 7 hoàn toàn khống chế được vùng nước biển Hoa Đông, Biển Đông và hướng ra eo biển Malacca.

Đại đa số các tàu ngầm lớp Los Angeles được phát triển từ năm 1972 đến năm 1996, là lớp tàu tấn công chủ lực của Hải quân Mỹ và cũng là lớp tàu thành công nhất trong lực lượng tàu ngầm Mỹ.

Sức mạnh lực lượng chống ngầm

Biển Đông, biển Hoa Đông là nơi lực lượng tàu ngầm hạm đội 7 và 3 hoạt động mạnh nhất, trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đến những năm đầu của thế kỷ 21. Vịnh Cam Ranh là quân cảng và cũng là căn cứ của lực lượng hải quân Liên xô, chính vì vậy, tại Biển Đông, Mỹ đã thường xuyên tiến hành các hoạt động tuần tiễu sẵn sàng chiến đấu của tàu ngầm Mỹ, đồng thời các hoạt động chống ngầm ở khu vực đã giúp cho người Mỹ theo dõi rất sát các hoạt động của tàu ngầm đối phương, bao gồm cả tàu ngầm của Liên xô và Trung Quốc

Trong giai đoạn sau này, người Mỹ đã tập trung sự chú ý vào hải cảng quân sự của tàu ngầm Trung Quốc trên đảo Hải Nam, với hệ thống công nghệ chống ngầm hiện đại từ không ảnh vệ tinh, các hệ thống truy tìm, kiểm soát tàu ngầm trên biển Đông. Những vụ va chạm giữa hải quân Trung Quốc và các phương tiện trinh sát, tìm kiếm của Mỹ đã cho thấy rõ điều đó.

Ví dụ: tháng 4.2001, vụ va chạm giữa chiếc máy bay trinh sát điện tử và chống ngầm EP-3 với máy bay tiêm kích J-8 của Trung Quốc, năm 2009 ngư dân Trung Quốc đã tấn công tàu USNS Impeccable và USNS Victorious trong khu vực EEZ, cũng trong tháng 6.2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã va chạm với một tàu khu trục Mỹ kéo theo anten sonar mảng pha. Điều đó cho thấy, lực lượng Hải quân Mỹ theo dõi rất chặt chẽ mọi hoạt động của lực lượng tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông.

Căn cứ của đồng minh

Ngoài những lợi thế về công nghệ, lực lượng tàu ngầm của Mỹ còn được một lợi thế quan trọng hơn trong cuộc chiến ngầm dưới biển Đông, đó là việc được sử dụng các căn cứ của đồng minh.

Trong điều kiện căng thẳng gia tăng, Trung Quốc sẽ buộc phải đưa lực lượng tàu ngầm của mình vào vùng nước biển Đông đến quần đảo Trường Sa. Các hạm tàu mà Trung Quốc có thể sử dụng được chỉ có thể là lực lượng tàu ngầm chiến thuật bao gồm 06 tàu lớp Minh ES5F (Ming); 10 tàu lớp Romeo - Type 033; 04 tàu lớp Tống (Song) Type 039G hoặc 039G1; 01 tàu lớp Kilo. Lực lượng này là tàu ngầm lớp diesel điện phát triển từ những năm 1970, trên thực tế đã lỗi thời và rất dễ bị phát hiện đo tiếng ồn lớn và khoảng cách phải cơ động khá xa.

Các tàu ngầm nguyên tử lớp Los Angeles Mỹ có thể hành trình lâu dài dưới nước tránh sự phát hiện của không quân Trung Quốc, sử dụng các hải cảng quân sự Philippines. Khoảng cách từ hải cảng này đến Trường Sa rất gần và các tàu ngầm nguyên tử Mỹ có khả năng triển khai nhanh sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu trên khoảng cách giữa quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngoài ra, các tàu ngầm nguyên tử tấn công Mỹ còn có một lợi thế rất lớn là sử dụng các nguồn thông tin tình báo từ các nước đồng minh như Nhật Bản, Philippines, Đài Loan cũng như sự yểm trợ (có thể không tham gia chiến đấu) để phục vụ cho mục đích ngăn chặn tàu ngầm Trung Quốc xuất kích. Không bị ngăn chặn bởi các thành phần lực lượng cấu thành hệ thống AD/2D Trung Quốc, các tàu ngầm nguyên tử Mỹ, trang bị tên lửa Tomahawk có thể tiếp cận được khu vực tấn công thuận lợi nhất, đặt tất cả các cơ sở hạ tầng quân sự và vũ khí trang bị của PLA vào tầm bắn của loại tên lửa hành trình này.

Với những lợi thế trên, trong tình huống xảy ra mâu thuẫn có thể dẫn đến nguy cơ bùng phát chiến tranh dồn nén thời gian, lực lượng tàu ngầm Mỹ sẽ nhằm vào tất cả các mục tiêu quan trọng, từ căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo, đảo Phú Lâm căn cứ Du Lâm quần đảo Hải Nam và ngay cả các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo chống tàu trên bờ biển Trung Quốc.

Điều đó có nghĩa là, nếu xảy ra xung đột giữa Mỹ với Trung Quốc, ngay từ loạt đạn đầu tiên xuất phát từ tàu ngầm có thể hủy diệt tất cả các căn cứ quân sự trên các đảo phi pháp đó, bao gồm cả đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và phong tỏa hoạt động của đảo Hải Nam. Khả năng giành thắng lợi như đẩy lùi lực lượng hải quân Mỹ, phá hủy được tàu chiến hoặc tàu sân bay của Mỹ thực sự rất nhỏ.

Trung Quốc "học bài" Mỹ

Trước nguy cơ đe dọa bằng lực lượng tàu ngầm Mỹ, Trung Quốc cố gắng đáp trả bằng giải pháp xây dựng các sân bay trực thăng trên các đảo nhân tạo nhằm tăng cường khả năng tuần thám chống ngầm. Phối hợp cùng các tàu khu trục mang trực thăng vận tải chống ngầm và máy bay chống ngầm tuần tra trên biển Đông. Hơn thế nữa, Trung Quốc đe dọa sẽ đưa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo đầu đạn hạt nhân vào vùng nước Thái Bình Dương, trên khu vực có thể tấn công vào nước Mỹ. Ngoài ra, Trung Quốc cũng muốn xây dựng một hệ thống chống ngầm tương tự như hệ thống IUSS với thành phần chính là SOSUS của Mỹ trên biển Đông và biển Hoa Đông

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, trong một bài phát biểu ngày 13.5.2016, đề cập đến phương án sử dụng các tàu ngầm không người lái ở Biển Đông, chú trọng đến các vùng nước nông rộng lớn nhằm kiểm soát chặt chẽ lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên vùng biển này.

Trong tương lai, Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng sẵn sàng chiến đấu trên biển Đông với mục đích kiềm chế các hoạt động hạn chế Tự do hàng hải mà Trung Quốc có thể đặt ra. Đồng thời các đơn vị Hải quân bao gồm tàu sân bay, khu trục hạm và đặc biệt quan trọng là lực lượng tàu ngầm sẽ là lực lượng then chốt để răn đe, ngăn chặn và sẵn sàng tấn công trong tình huống cần thiết.

(Vietimes)
tin mới du lịch cô tô tin mới thiết bị camera cửa lưới chống muỗi cửa lưới chống muỗi tự cuốn thi công nội thất thiết kế nội thất loa đám cưới nhà nghỉ cô tô âm thanh hội trường báo online phiếu giảm giá gai goi ha noi gai goi sai gon gai goi cao cap gai goi cao cap ha noi gái gọi trần duy hưng gái gọi mỹ đình gái gọi kim liên chùa bộc danh sách gái gọi gái gọi cao cấp hà nội gái gọi sài gòn gái gọi hà nội gái gọi hà nội