Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Video. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Video. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Nhà cầm quyền của đất nước này không những bưng bít lịch sử mà còn tái tạo lại nó để phục vụ hiện tại. Họ biết rằng, trong một nước cộng sản, sự thay đổi thường bắt đầu khi quá khứ bị thách thức

Đường phố Bắc Kinh
Lần đầu tiên khi tôi đến Trung Quốc vào năm 1984, các bạn học nước ngoài của tôi và tôi ở Đại học Bắc Kinh thường chơi một trò chơi với một cuốn sách hướng dẫn cũ. Đó là cuốn Nagel’s Encyclopaedia Guide: China (Sách hướng dẫn bách khoa của Nagel: Trung Quốc), được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1968 tại Thụy Sĩ và nêu các mô tả về các địa điểm văn hóa quan trọng được các nhà ngoại giao và học giả Pháp đến viếng. Chìa khóa cho chúng tôi là họ đã thu thập thông tin trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, tức là chỉ ngay trước khi Mao tung ra Cách mạng Văn hóa phá hủy hàng chục ngàn nơi thờ phượng và địa điểm lịch sử trên toàn Trung Quốc. Chúng tôi tìm một nơi ở Bắc Kinh và đạp xe đến để xem còn lại những gì. 

Tôi nhớ chuyến đi tìm Ngũ Tháp Tự, một ngôi chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ 15 và gồm có năm tháp nhỏ trên một nền đá khổng lồ. Quyển Nagel nói là hầu hết đã bị phá hủy trong bạo loạn hồi cuối thế kỷ 20, và đầu thế kỷ 19, nhưng năm tháp nhỏ vẫn còn ở đó. Trên bản đồ Bắc Kinh thập niên 1980 không thấy có nó, nhưng cuốn Nagel kích thích chúng tôi. Ngôi chùa đó có còn không? 

Chúng tôi đạp xe tới đường Bạch Thạch Kiều (Baishiqiao/白石桥) và cố chồng bản đồ “Pekin” cũ của Nagel lên bản đồ của một Bắc Kinh cạn kiệt sau Cách mạng Văn hóa. Cuối cùng chúng tôi đã phải dừng lại và hỏi thăm. Sau nhiều cố gắng không kết quả, chúng tôi được dẫn qua cổng một nhà máy và vào đền thờ nằm khuất ở phía sau. Tất cả những gì còn lại là nền đá lớn, bên trên là 5 tháp đá. Ngói đã rơi ra khỏi mái nhà, và bia đá có khắc chữ và hoa văn bị vở bể nằm trên mặt đất. Cỏ dại mọc khắp nơi. Dù vậy, chúng tôi bước lên nền đá với một cảm giác kỳ lạ: ở đây có một cái gì đó đã biến mất khỏi bản đồ hiện nay nhưng vẫn tồn tại. Trong một công trình kiến trúc, chúng tôi có câu chuyện về tính vĩ đại văn hóa của Trung Quốc, về xâm lược nước ngoài, về tự hủy diệt văn hóa và cũng có câu chuyện về sự sống sót. Ở đây, nhờ cuốn sách hướng dẫn lạ mà chúng tôi có được lịch sử Trung Quốc một cách cô đọng - quá khứ cùng hiện tại. 

Quan sát Trung Quốc đôi khi đòi hỏi một ống kính như ống kính của Nagel. Đi bộ trên đường phố ở các thành phố của Trung Quốc, lái xe trên đường quê và đi viếng các trung tâm hấp dẫn du khách có thể bị mất phương hướng. Một mặt, chúng ta biết đây là một đất nước mà một nền văn minh phong phú từng tồn tại hàng nghìn năm, tuy nhiên chúng ta lại bị choáng ngợp bởi một cảm giác mất gốc. Các thành phố của Trung Quốc trông không có vẻ cổ xưa. Ở nhiều thành phố cũng có các địa điểm văn hóa và những bọc nhỏ cổ xưa nhưng nằm giữa một biển bê tông. Khi chúng ta bắt gặp quá khứ dưới dạng một ngôi đền cổ hay một lối đi hẹp, chỉ một chút điều tra sẽ cho thấy phần lớn là được tái tạo. Nếu bây giờ bạn quay trở lại chùa Ngũ Tháp, bạn sẽ thấy một ngôi chùa hoàn toàn tân trang, không một viên gạch hoặc ngói không đúng chỗ. Nhà máy đã bị kéo đổ và thay bằng một công viên, một bức tường, và một điểm bán vé. Chúng ta có thể đứng đúng ngay vị trí của cái đó gì cổ xưa nhưng chất lịch sử đã bị loãng đi đến mức như thể nó đã biến mất. 

Điều này nói cho chúng ta biết gì về một đất nước? Người lạc quan sẽ có cảm giác của sự năng động - ở đây, cuối cùng, là một đất nước đang vực dậy đi tới trong khi phần còn lại của thế giới trì trệ hoặc chậm rãi tiến về phía trước. Điều này luôn được nói với sự ngạc nhiên và sợ hãi. Đỉnh cao của thời đại kỳ lạ này xuất hiện ngay trước khi Thế vận hội năm 2008, khi truyền thông phương Tây tự va vấp cố tuôn ra những lời khen ngợi dạt dào nhất cho sự trỗi dậy / chuyển đổi / trẻ hóa (chọn từ sáo của bạn) của Trung Quốc. Điển hình là một nhà phê bình kiến trúc của New York Times, ông nói như mê sảng khi đến Bắc Kinh vào năm 2008 về “cảm giác không thể tránh được rằng bạn đang đi qua một cánh cổng đến một thế giới khác, một thế giới mà sự quyết tâm thay đổi đã bỏ các nước phương Tây ở lại trong đám bụi mù” và kết luận rằng “người ta tự hỏi không biết bao giờ phương tây mới bắt kịp”. 

Những cảm xúc khác mơ hồ hơn. Cảm giác cùn mằn nhất mà tôi nếm trãi là: một quốc gia đã xóa sạch hoàn toàn quá khứ của mình và sau đó tái tạo lại như thế - thì có thể tin cậy được hay không? Tại một quốc gia, hoặc một dân tộc, hay một nền văn minh, cái gì gây phiền toái nhiều đến nỗi lại vẫn không thoải mái sâu đậm với lịch sử của mình? Lịch sử được tán dương ở Trung Quốc. Người dân thường sẽ cho bạn biết mỗi khi có cơ hội rằng họ có 5 000 năm văn hóa: wuqiannian de venhua (ngũ thiên niên đích văn hoá). Còn đối với chính phủ, đó là mốc chuẩn cho tính chính đáng (legitimacy) trong hiện tại. Nhưng nó cũng là con quái thú đang ẩn trong bóng tối. 

Thật khó để nói quá vai trò của lịch sử trong xã hội Trung Quốc do một đảng cộng sản điều khiển. Chủ nghĩa cộng sản tự nó được dựa trên thuyết tất yếu lịch sử: một trong những luận điểm của Marx là thế giới đang vận động không thể tránh khỏi về phía chủ nghĩa cộng sản, một lập luận mà những người xây dựng chế độ như Lenin và Mao đã sử dụng để biện minh cho việc đi lên nắm quyền bằng bạo lực. Ở Trung Quốc, chủ nghĩa Mác được xếp lên trên nhiều ý tưởng cũ hơn về vai trò của lịch sử. Mỗi triều đại kế tiếp đã viết lịch sử của triều đại trước nó, và hệ tư tưởng chính trị chiếm ưu thế - cái mà hiện được gọi chung là Nho giáo - được dựa trên khái niệm vốn lý tưởng cho việc cai trị phải được tìm thấy trong quá khứ, với những vị vua đạo đức mô phỏng chúng. Thành quả là quan trọng nhưng chủ yếu như là bằng chứng về sự phán xét của lịch sử. 

Điều đó có nghĩa là lịch sử được kềm giữ tốt nhất với dây cương thật chặc. Ngay sau khi lên nắm quyền làm tổng bí thư đảng Cộng sản vào năm 2012, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tái nhấn mạnh quan điểm này trong một bài phát biểu quan trọng về lịch sử được công bố trên Nhân dân nhật báo , tờ báo chính thức của đảng. Tập Cận Bình là con của một quan chức đảng hàng đầu góp phần sáng lập chế độ, nhưng bị Mao thất sũng, và phải chịu đày đoạ trong Cách mạng Văn hóa. Một số người nghĩ rằng Tập Cận Bình có thể có một cái nhìn phê phán hơn đối với thời đại Mao, nhưng trong bài phát biểu nêu trên, ông nói rằng không nên sử dụng 30 năm cải cách bắt đầu dưới thời Đặng Tiểu Bình trong những năm cuối thập niên 1970 để “phủ nhận” 30 năm đầu của chế độ cộng sản dưới thời Mao.

Lý do không nói ra cho việc Tập Cận Bình không sẵn sàng từ khước thời đại Mao là Mao không chỉ là Stalin của Trung Quốc. Liên Xô đã có thể loại bỏ Stalin vì còn có Lenin như cha đẻ của nó. Đối với đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao là Stalin và Lenin kết hợp lại; tấn công Mao và thời đại của ông là tấn công nền tảng của nhà nước Cộng sản. Năm năm sau khi Cách mạng Văn hóa kết thúc với cái chết của Mao Trạch Đông vào năm 1976, đảng đã đưa ra một tuyên bố lên án thời đại đó và vai trò của Mao lúc đó, nhưng tuyên bố đó cũng đã kết thúc thảo luận thêm về Mao qua việc khẳng địnhrằng “những đóng góp của ông cho cách mạng Trung Quốc vượt trội hơn những sai lầm của ông. Công của ông là chính và lỗi của ông là phụ.” 

Nhưng trên một bình diện rộng hơn, lịch sử đặc biệt nhạy cảm vì sự thay đổi trong một quốc gia cộng sản thường bắt đầu với việc lịch sử bị thách thức. Chẳng hạn, trong thập niên 1980 các nhóm như hội nghiên cứu lịch sử Tưởng niệm đã biến dạng thành một phong trào xã hội làm suy yếu Liên Xô qua việc phơi bày quá khứ bất ổn của nó. Trung Quốc hiện nay mạnh hơn Liên Xô thời Gorbachev, nhưng ký ức vẫn ngoài khả năng nắm giữ của chính phủ, đặt ra thách thức cho một chế độ mà lịch sử làm nên tính chính đáng. Mặc dù theo định nghĩa, lịch sử là quá khứ, nhưng nó cũng là hiện tại và tương lai của Trung Quốc. 

Lịch sử bị bưng bít? 

Các thành phố Trung Quốc là thành phố ma. Không phải theo nghĩa lãng phí về bất động sản – nhiều khu phức hợp rộng lớn xây dang dở, bỏ không, và đổ nát - dù thật sự có một số như vậy. Thay vì thế các trung tâm đô thị của đất nước này được xây dựng trên một quá khứ bị xoá mất mà chỉ đôi khi mới len lẫn vào hiện tại qua những cái tên lạ tai của đường phố, công viên, và điểm dừng tàu điện ngầm. 

Tại Bắc Kinh, cũng như hàng chục thành phố trên khắp đất nước, đường phố rất thường được đặt tên theo mối quan hệ của chúng với những thứ không còn tồn tại, những địa điểm hồn ma, chẳng hạn như cổng thành, đền, vòm tưởng niệm, và các sự kiện lịch sử bị lãng quên. Chẳng hạn, tại thủ đô, Bộ Ngoại giao nằm trên Chiêu Dương môn ngoại (Chaoyangmenwai/朝阳门外), tức là con đường ngoài cổng Chiêu Dương. Chỉ một vài trăm mét về phía tây, đường này đổi tên thành Chiêu Dương môn nội (Chaoyangmennei/朝阳门内), tức là con đường bên trong cổng Chiêu Dương. Ở giữa là đường Nhị Hoàn (二环: đường Vòng tròn thứ hai). Tên các con đường nàychỉ có ý nghĩa nếu bạn nhận ra rằng con đường vòng tròn này được xây dựng trên vị trí các bức tường thành, có một lối đi vào ngay ở đó, Chiêu Dương môn (Chaoyangmen/朝阳门), tức cổng Chiêu Dương. Tường thành đã trở thành một xa lộ và cổng vào trở thành ngã chuyển đổi ra vào (interchange). Không có gì khác ngoài những cái tên đường còn tồn tại trong khu phố này nhắc nhở bạn về các kiến trúc hồn ma đó. 

Luôn luôn có cách cho một người hoài nghi giảm nhẹ một hiện tượng bằng cách nói, nhưng gượm đã, rằng điều đó cũng tồn tại ở nơi khác. Ta có thể nói rằng tất cả các thành phố đều có các khu phố, các con đường được đặt theo tên những con người hoặc các sự kiện từ xa xưa không ai còn nhớ tới trừ những kẻ mọt sách. Điều này tất nhiên là đúng, nhưng ở Trung Quốc việc chuyển dịch về văn hóa lớn hơn, và các rào cản đối với ký ức cao hơn. Trung Quốc quả có bách khoa toàn thư trực tuyến, cũng như những cuốn sách giải thích lịch sử của Bắc Kinh. Một số thậm chí rất đắc hàng, chẳng hạn như công trình mở đường Thành Ký (城记:Sách ghi chép về thành phố) của phóng viên Vương Quân (Wang Jun/王军) thuộc Tân Hoa Xã. Nhưng các sách này đều bị biên tập mạnh bạo, và đòi hỏi phải có kiến thức văn hóa mà hầu hết người Trung Quốc ngày nay đều thiếu. Quay trở lại những năm 1990, vẫn có thể tìm thấy các nhà hoạt động công dân đã tranh đấu để gìn giữ thành phố cổ vì nó có ý nghĩa đối với họ. Ngày nay, rất ít dân Bắc Kinh đích thực sống trong thành phố cũ; họ đã dời chỗ ở đến các vùng ngoại ô và được thay thế bởi những di dân (những người nghèo từ vùng nội địa của Trung Quốc, hoặc người hồi hương giàu có) không có chút liên hệ với quá khứ của thành phố. Thành phố có những câu chuyện của nó, nhưng là bí ẩn đối với hầu hết cư dân. 

Một khác biệt nữa là những nỗ lực kỷ niệm quá khứ thường làm hiểu sai hoặc quá rời rạc thành vô nghĩa. Chẳng hạn, hầu như tất cả các bảng ghi ở di tích lịch sử đều nêu ra một lịch sử không trọn vẹn hoặc những điều dối trá trắng trợn. Ví dụ, cách một vài bước về phía đông Bộ Ngoại giao là Đông Nhạc miếu (miễu núi Đông). Phía trước nó có một bia đá ghi rằng nó đã là một công trình bảo tồn cấp quốc gia kể từ năm 1961. Một tấm bảng thứ hai trên tường cho biết thêm một vài chi tiết, giải thích ngôi miếu được xây dựng như thế nào vào thời nhà Nguyên (1271-1368) và là một đền thờ chính của đạo Lão. 

Thật ra, ngôi miếu đã bị rút ruột hoàn toàn trong Cách mạng Văn hóa, tượng trong miếu bị thiêu huỷ hoặc chở ra nhà kho rồi bị phá hủy ở đó. Trong số khoảng 50 tượng hiện có trong miếu chỉ có 5 tượng cổ, số còn lại đều là tượng mới. Năm tượng cổ thuộc một miếu khác, Tam Quan miếu (Sanguanmiao/三官庙: Miễu ba vị quan). Sau khi thời đại Mao kết thúc vào cuối thập niên 1970 và các đền chùa mở cửa trở lại, người ta không thể xác định được các tượng của miếu Đông Nhạc ở đâu nên mấy tượng của miếu Tam Quan vốn vẫn còn bị một văn phòng chính phủ chiếm, đã được đưa về đó. 

Du khách cũng không biết được gì về việc diện tích của ngôi miếu đã được bị giảm đi rất nhiều như thế nào trong Cách mạng Văn hóa vì nó đã bị các cơ quan an ninh quân sự và công an chiếm. Khi thời đại Mao kết thúc, họ bỏ trống phần lõi ở giữacủa ngôi miếu - ba khoảng sân và các kiến trúc mà ta thấy hiện nay. Phần còn lại do Công an chiếm cho đến thập niên 1990, và cuối cùng bị phá bỏ và biến thành đất thương mại vào đầu thập niên2000. Các kiến trúc còn lại tạm hoạt động như một ngôi miếu. Khi quân đội, công an dời đi, Bộ Văn hóa chuyển vào và biến ngôi miếu thành một bảo tàng văn hóa dân gian. Chỉ sau một cuộc đấu tranh kéo dài thì Hội Đạo Lão Trung Quốc mới giành lại quyền kiểm soát một phần của ngôi miếu vào đầu thập niên 2000, nhưng vẫn phải chia sẻ không gian. 

Tất nhiên, các bảng ghi chẳng giải thích chút gì về điều này. Thay vào đó, người ta có ấn tượng rằng ngôi miếu luôn luôn là như thế- một di tích xưa 800 năm trong quá khứ tuyệt vời của Trung Quốc. Lịch sử mà tôi đã phác thảo ra ở đây không phải là điều khẳng định hoặc có dựa trên các bằng chứng tài liệu chắc chắn mà là một cái gì đó được tôi tái tạo qua việc quan sát ngôi miếu hơn hai thập kỷ qua và qua việc chuyện trò với các thầy cúng đạo Lão hiện đang làm việc ở đó. Nhưng cho đến khi kho lưu trữ thành phố được mở thì đó có lẽ là điều tốt nhất chúng ta có thể hy vọng tới. 

Lịch sử bị tái tạo

Đảng Cộng sản không chỉ bưng bít lịch sử mà còn tái tạo lại nó để phục vụ hiện tại. Ở Trung Quốc, điều này tiếp sau việc đảng gần tới tự hủy diệt trong Cách mạng Văn hóa, dẫn đến một tìm kiếm tuyệt vọng cho tính chính đáng về hệ tư tưởng. Lúc đầu, chủ yếu là về kinh tế, nhưng sau vụ thảm sát người biểu tình ủng hộ dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 6 năm 1989, đảng đã bắt đầu tự thúc đẩy bản thân tích cực hơn như những kẻ bảo vệ cho nền văn hóa và truyền thống Trung Quốc. 

Một cách mà họ đã bắt đầu làm điều này là tự định vị mình như người bảo vệ “di sản văn hóa phi vật thể”, một thuật ngữ lấy theo Unesco, tổ chức này giữ một danh sách các truyền thống quan trọng đối với các quốc gia cụ thể theo từng nước. Trái ngược với các đia điểm di sản thế giới vốn là những cấu trúc vật lý như Vạn Lý Trường Thành hoặc Tử Cấm Thành, di sản phi vật thể bao gồm âm nhạc, ẩm thực, sân khấu, lễ hội.

Mãi tới thập niên 1990 Trung Quốc, một số trong những truyền thống này vẫn bị gán là “mê tín phong kiến”, một thuật ngữ xúc phạm trong từ vựng của cộng sản đồng nghĩa với các tập quán văn hóa lạc hậu. Ví dụ, đám tang kiểu xưa bị bài xích khắp nơi, nhưng bây giờ lại nằm trên danh sách văn hóa phi vật thể của chính phủ. Tới âm nhạc tôn giáo vốn chỉ trình diễn trong các dịp lễ hội trong các đền thờ đạo Lão cũng thế. 

Kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 11 năm 2012, Tập Cận Bình đã tự giấu mình trong lớp vỏ bọc truyền thống triệt để hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc kể từ khi hệ thống đế chế sụp đổ vào năm 1911. Xây dựng trên công việc của các tiền nhiệm, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào và lời kêu gọi về một “xã hội hài hòa” (hexie shehui/和谐社会) nghe có vẻ của đạo Lão, chương trình tư tưởng của Tập Cận Bình bao gồm việc thừa nhận rõ ràng các hình tượng đạo đức và tôn giáo truyền thống. 

Năm 2013, theo một bài báo tin tức ngày 5 tháng 12, Tập Cận Bình đi thăm quê hương Khổng Tử ở Khúc Phụ (Qufu/曲阜), nhặt cuốn Luận ngữ - một cuốn sách về các câu nói và ý tưởng của nhà triết học vĩ đại này - cùng cuốn tiểu sử của ông này, và tuyên bố: “tôi muốn đọc cẩn thận hai quyển này”. Ông cũng đặt ra câu cách ngôn kiểu Khổng Tử của riêng mình - “một nhà nước không có đạo đức thì không thể trường tồn”. Năm sau, ông trở thành nhà lãnh đạo đảng Cộng sản đầu tiên tham gia lễ kỷ niệm sinh nhật của Khổng Tử. Phát biểu tại Hội Nho giáo quốc tế, Tập Cận Bình nói: “để hiểu Trung Quốc ngày nay, dân tộc Trung Quốc ngày nay, chúng ta phải hiểu văn hóa và huyết thống Trung Quốc, và nuôi dưỡng việc nắm giữ chính mãnh đất văn hóa riêng của dân tộc Trung Quốc”.Những lời bóng gió cổ điển của ông đã trở nên nhiều đến mức vào ngày 8 tháng 5 năm 2014, tờ Nhân dân nhật báo đã phải đăng một trang đầy để giải thích chúng. 

Không lâu sau khi Tập Cận Bình nắm quyền lãnh đạo đảng, những lời hô hào truyền thống đã chiếm lĩnh không gian công cộng của các thành phố ở Trung Quốc. Ví dụ vào giữa năm 2013, nhiều áp phích bắt đầu treo khắp Trung Quốc, khéo léo chiếm dụng nghệ thuật truyền thống Trung Quốc, ghép những hình ảnh này với những thứ liên quan tới “Giấc mơ Trung Quốc”. 

Giấc mơ Trung Quốc là đóng góp của Tập Cận Bình vào kho khẩu hiệu quốc gia - mỗi nhà lãnh đạo đứng đầu phải có ít nhất một khẩu hiệu. Hầu hết đều đề cập đến các chủ thuyết bí hiểm, chẳng hạn như  thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân, thuyết này đặt ra công việc cho đảng là phải đại diện cho một mảng xã hội rộng lớn hơn so với trước đây. Ngược lại, ý tưởng Tập Cận Bình đơn giản để nắm bắt hơn – ai mà không có một giấc mơ? Khẩu hiệu trở nên liên kết với nhiều mục tiêu, trong đó có chủ nghĩa dân tộc và việc Trung Quốc vươn lên nổi trội trên toàn cầu, nhưng ở trong nước, hình ảnh của nó gần như luôn luôn liên quan đến văn hóa và đạo đức truyền thống. 

Ở Trung Quốc, hầu hết việc tuyên truyền lâu nay trông nhàm chán: thường là biểu ngữ đỏ với chữ trắng hoặc vàng cổ vũ người dân theo chủ trương của đảng Cộng sản, tuân thủ điều tra dân số, hoặc làm cho khu vực địa phương họ đẹp hơn. Tuy nhiên, các áp phích Giấc mơ Trung Quốc thì đầy màu sắc, tươi sáng và xinh xắn. Nhiều áp phích trong số đó chứa tranh vẽ những tượng đất sét nhỏ được nặn bởi “Nê nhân Trương” (Niren Zhang/泥人张: người nặn đất sét họ Trương), một nghệ nhân nổi tiếng được ưa thích và nổi tiếng tại Trung Quốc như Norman Rockwell ở Mỹ. Theo truyền thống, những tượng nhỏ bằng đất sét này thể hiện các cảnh trong đời sống hàng ngày và tôn giáo, hay giải trí, chẳng hạn như các nhân vật trong Kinh kịch, hay các vị thần như Quan Công. Nhiều bộ tượng này đã được gửi đến hội chợ thế giới trong những năm cuối của triều đại nhà Thanh (1644-1911) như là ví dụ về nghệ thuật Trung Quốc. 

Nổi tiếng nhất trong những áp phích Giấc mơ Trung Quốc có ảnh tượng của một cô bé mũm mĩm,nghiêng đầu  mơ màng của người nặn tượng họ Trương.Bên dưới là một bài thơ đúc kết ước mơ cá nhân và đất nước:

Ôi Trung Hoa
Giấc mơ của ta
Một giấc mơ hoa

Tác giả của bài thơ này là Nhất Thanh (Yi Qing/一清), bút danh của Tạ Liễu Thanh (Xie Liuqing /谢柳青). Ông Thanh là một biên tập viên của tạp chí Thế giới Hán ngữ và đứng đầu Blog nổi tiếng của Trung Quốc Salon, một blog trao đổi chủ yếu với các vấn đề dân tộc và được đăng ký dưới trang web chính thức của Bộ tuyên truyền. Thanh cũng viết kịch và nhạc kịch, tất cả đều ca ngợi đảng và đặc biệt là Mao. Vài chục tác phẩm của ông dựa trên những sự kiện lịch sử lớn đã được xuất bản, dựng thành phim hoặc chương trình truyền hình, hay trình diễn ở nhà hát. Một số bài viết trên blog của ông đã được đăng trên tờ Cầu Thị (求是: Tìm kiếm điều đúng), tạp chí tư tưởng chính của đảng. 

Ở một mức độ, ông Thanh có thể chỉ đơn giản là xem như là một nhân viên mù quáng của chính quyền, nặn ra chất liệu cho chiến dịch mới nhất của nhà nước. Nhưng khi tôi đến thăm ông vào năm 2013, câu chuyện của ông hóa ra là thú vị hơn, và phát hiện ra những kỹ thuật tuyên truyền tinh vi được đảng cộng sản sử dụng trong thập niên 2010 để tạo ra một hệ tư tưởng có thể liên kết chủ nghĩa cộng sản với những giá trị truyền thống. 

Ông Thanh mời tôi đến phòng làm việc của ông. Hóa ra đó là một phòng tại khách sạn Ordos ở Bắc Kinh. Tôi ngạc nhiên khi biết rằng Xie không có một phòng làm việc phù hợp tại công sở vì ông không phải là quan chức chính phủ như tôi đã tưởng mà chỉ là một nghệ sĩ tự do (freelancer). Chúng tôi trò chuyện một lúc và ông nói với tôi ông gốc ở Hồ Nam, cùng quê với Mao Trạch Đông. Hầu hết các công trình của ông Thanh là nói về Mao, người mà ông ta cho là một anh hùng của Trung Quốc hiện đại. Ông Thanh nói “Bạn có thể chỉ trích ông ấy, nhưng bạn không thể phủ nhận rằng ông ấy quan trọng. Tôi tin chắc điều đó.”

Tham gia với chúng tôi có thêm Trương Gia Bân (Zhang Jiabin/张嘉斌), một biên tập viên của nhà xuất bản Hồng Kỳ, một công ty của đảng cộng sản vừa xuất bản một bộ sưu tập của các áp phích, và cũng là thơ của Tạ Liễu Thanh. Ông Thanh cho chúng tôi xem một đoạn video ngắn của một buổi lễ ca tụng các áp phích Giấc mơ Trung Quốc. Trong clip này, ông Thanh giải thích rằng ông đã nhìn thấy bức tượng dấu ấn cô gái mũm mĩm lúc ở tại một cuộc triển lãm ở khu Hoài Nhu (Huairou/怀柔) Bắc Kinh. Ông đăng nhiều ảnh trực tuyến với một vài câu thơ đối.

Đầu năm 2013, khi ban văn minh, một cơ quan chính phủ, lên kế hoạch cho một chiến dịch quảng bá ý tưởng về giấc mơ Trung Quốc của Tập Cận Bình, họ đã nhìn thấy những bài thơ của Tạ Liễu Thanh cùng hình ảnh của các nhân vật. Ông đã gặp với các quan chức và cùng hợp sức suy nghĩ nẩy ra ý tưởng mở rộng chiến dịch bao gồm nhiều loại hình văn hóa truyền thống, kể cả tranh dân quê và tranh khắc gỗ.

“Họ nói, này, chúng tôi cần nhiều thơ hơn nữa vì vậy tôi chỉ thảo vội ra một cách nhanh chóng và bây giờ chúng hiện lên,” ông nói khi đoạn video kết thúc. “Nó phải là một chiến dịch dài 60 000km. Đó là số kilomet đường cao tốc có ở Trung Quốc - chúng tôi nói đùa rằng phảiphủ nó trên mỗi mét đường”.

Đó khó thể là một sự cường điệu. Thật khó để tránh các áp phích.Có lúc các áp phích cổ xuý các giá trị truyền thống như lòng hiếu thảo ( “trung thực và quan tâm, được truyền lại qua nhiều thế hệ”), lúc khác lại là lòng ngưỡng mộ triệt để đối với đảng Cộng sản ( “cùm dưới chân, còng trên tay / cỏ mạnh chịu được gió to / đảng viên Cộng sản lên đường / núi có thể lay nhưng lòng người không hề chuyển / nhiệt huyết hoà hoa xuân sẽ viết nên lịch sử hôm nay “). Đôi khi chúng chỉ đề cao tinh thần yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc (“Đất nước ta tươi đẹp” và “Đó là mùa xuân cho tương lai của cha chúng ta”). Tất cả cho thấy làm saocó đồng minh nào tốt hơn lịch sử đối với chính phủ hiện nay. 

Lịch sử được phục hồi 

Đôi khi việc lịch sử nổi lên trở lại trong ý thức cộng đồng là không có chủ ý và phi chính trị. Điều này làm tôi chú ý tôi một ngày vào năm 2014 khi tôi đi nghe một buổi nói chuyện tại văn phòng chính của Cục Lưu trữ Quốc gia, bên cạnh Công viên Bắc Hải ở Bắc Kinh. Diễn giả là Lưu Quốc Trung (Liu Guozhong/刘国忠), giáo sư tại Đại học Thanh Hoa có giọng nói nặng và đôi mắt nhỏ thường biến mất khi ông cười. Ông Trung nói tự do không theo ghi chép sẵn trong 90 phút về một cái gì đó có vẻ mơ hồ nhưng lại dần dần làm lay động giới trí thức Trung Quốc: việc phát hiện bản văn dài 2 500 năm trước đây bị thất lạc.

Các bản văn tiếng Trung xưa nhất được biết đến được gọi là giáp cốt văn. Viết trên mai rùa, chúng thường liên quan đến một phạm vi hẹp các chủ đề: các loại cây trồng nên trồng vào ngày nào, nhà vua có nên phát động một cuộc chiến tranh không? Kết hônra sao? Đi lại thế nào? Thông qua chúng, những mối quan tâm cơ bản của cuộc sống của vua có thể được đong đếm. 

Các bản văn mà chúng ta tìm hiểu về chúng ở đây được viết sau hơn một thiên niên kỷ trên các thẻ tre, chúng có chiều dài bằng đôi đũa. Những bản viết này không mô tả đủ thứ chuyện về cuộc sống của triều đình mà là loại văn bản đầu tiên (ur-text) của văn hóa Trung Hoa. Trong 20 năm qua, ba lô thẻ tre thuộc thời kỳ này đã được khai quật. Giáo sư Trung ở đó để giới thiệu lô thứ ba - và là lô lớn nhất - của khám phá này, bộ 2 500 thẻ tìm được đã được tặng cho Đại học Thanh Hoa năm 2008.

 Dự án này nhằm phân loại và nghiên cứu các thẻ được nhà sử học nổi tiếng nhất của Trung Quốc, Lí Học Cần (Li Xueqin/李学勤) lãnh đạo. Ông Cần đứng đầu nhiều dự án lớn, trong đó có một nỗ lực trong những thập niên 1990 để xác định thời gian các triều đại bán thần thoại cách đây khoảng 5 000 năm, chẳng hạn như Hạ và Thương, được xem như các triều đại sớm nhất trong nền văn minh Trung Quốc. Qua hàng nghìn năm, sự tồn tại của cac triều đại này xem như chuyện hiển nhiên, mặc dù không có văn bản hoặc các tài liệu khảo cổ học liên quan đến một số là có thể truy nguồn được (tính lịch sử của thời nhà Hạ đặc biệt đáng nghi ngờ). Vào đầu thế kỷ 20, các nhà sử học ở Trung Quốc bắt đầu một phong trào “cổ đại nghi vấn”, chấn vấn sự tồn tại của các triều đại này, khẳng định rằng chúng chỉ đơn thuần là chuyện hoang đường. Việc đó chẳng những là một tranh luận trí thức mà nó còn hơn thế, thách thức cả sự chắc chắn ấp ủ sâu kín trong người Trung Quốc rằng nền văn minh của họ là một trong những nền văn minh lâu đời nhất trên hành tinh, xa xưa như Ai Cập cổ đại. Nỗ lực của ông Cần cốt yếu là đẩy lùi sự hoài nghi này, qua việc sắp xếp các bằng chứng cho thấy các triều đại đó thực sự tồn tại.

Các thẻ tre mà ông Trung mô tả thuộc một thời kỳ sau đó rất nhiều, nhưng chúng thách thức tính chắc chắn của nền văn hóa Trung Quốc theo những cách có thể sâu sắc hơn. Các bản văn này bắt nguồn từ thời Chiến quốc, một thời đại hỗn loạn ở Trung Quốc kéo dài từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 3 trước Công nguyên. Tất cả các trường phái tư tưởng chính của Trung Quốc tồn tại ngày nay đều bắt nguồn từ thời kỳ này, đặc biệt là Lão giáo và Nho giáo vốn là hệ tư tưởng chính trị chiếm ưu thế của đất nước, mà  các vị vua và hoàng đế noi theo - ít nhất trên lý thuyết - cho đến thế kỷ thứ 20.

Các thẻ tre làm thay đổi cách chúng ta hiểu về thời kỳ này. Một số người đã so sánh tác động của nó đối với sự hiểu biết về quá khứ của Trung Quốc với cách mà quá khứ đã được nhìn trong thời Khai sáng của châu Âu, một giai đoạn khi các văn bản cốt lõi của phương tây lần đầu tiên được phân tích như là tài liệu lịch sử thay vì là văn bản được chuyển giao nguyên vẹn từ thời xa xưa. “Như thể đột nhiên bạn có các văn bản bàn luận về Socrates và Plato mà bạn không biết là có tồn tại,” Sarah Allan, giáo sư đại học Dartmouth từng làm việc với ông Cần và ông Trung trong dự án, nói với tôi một vài tháng trước khi tôi nghe ông Trung nói: “Mọi người cũng nói nó giống như các cuộn giấy tài liệu cổ ở biển Chết, nhưng chúng quan trọng hơn thế. Đó không phải là tài liệu giả mà những văn bản này là từ thời kỳ khi mà phần cốt lõi của triết học Trung Quốc đang được thảo luận. Chúng đang làm biến đổi sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử Trung Quốc“. 

Một trong những ý tưởng đáng ngạc nhiên đi vào trong các văn bản mới là những ý tưởng vốn chỉ được nhắc đến trong các sách kinh điển Nho giáo hiện nay được phát hiện như là trường phái tư tưởng toàn diện thách thức những ý tưởng truyền thống chính yếu. Ví dụ, một bản văn lập luận ủng hộ việc chọn người theo tài đức mạnh mẽ hơnrất nhiều so với được thấy trong các kinh sách hiện đang được biết đến của Nho giáo. Cho đến nay, kinh sách Nho giáo chỉ cho phép việc thoái vị hoặc việc thay thế một nhà cai trị như là điều ngoại lệ hiếm hoi; nếu không phải là cha truyền con nối ngôi vua - một quan điểm theo hướng thành lập và phản cách mạng nhiều hơn. Các bản văn mới lập luận chống lại điều này. Đối với một nhà nước độc tài tự bọc mình trong “truyền thống” để biện minh cho quyền cai trị vĩnh viễn, ý nghĩa của trường phái mới này là tế nhị nhưng thú vị. Allan nói với tôi “Đó không phải là kêu gọi dân chủ mà nó lập luận mạnh mẽ hơn cho việc cai trị dựa trên tài đức thay vì cha truyền con nối.” 

Trở lại khán phòng bên cạnh Công viên Bắc Hải, giáo sư Trung tiếp tục nói về những phát hiện mới. Ông phóng các tiêu đề chính của tờ báo trên màn hình. Truyền thông ở Trung Quốc rất quan tâm, ông nói. Sau khi mỗi tập được phát hành, truyền thông Trung Quốc lao vào thảo luận về những phát hiện này, trong khi các blog và những người nghiệp dư cũng cố tự giải thích những phát hiện mới theo cách của mình. Khán giả chăm chú lắng nghe ông Trung khi ông vạch ra lịch trình xuất bản của nhóm Thanh Hoa. 

“Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi có 15 tập nữa, tức là thêm 15 năm nữa - cho đến khi tôi nghỉ hưu”, ông Trung vừa nói vừa cười. “Nhưng lúc đó bạn và những người khác sẽ tranh luận việc này cho đến cuối thế kỷ này. Nghiên cứu không dứt.” 

Giáo sư Trung kết luận và cúi chào khán giả. Ông tiếp tục nói cho tới hết 90 phút được phân bổ còn các nhân viên phụ trách trông cho mau hết để ra về. Ngay khi ông rời bục giảng là họ đã bắt đầu tắt đèn. Nhưng khán giả đổ xô lên sân khấu, dồn dập đưa ra nhiều câu hỏi cho giáo sư Trung. Có một ông từ Hội Nghiên cứu kinh Dịch hỏi họ sẽ xử lý bản văn mới này như thế nào về việc bói toán. Một sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Bắc Kinh háo hức hỏi về ý nghĩa chính trị của sự thoái vị. Giá o sư Trung đã trả lời tất cả lúc phân phát danh thiếp. Khi tờ cuối cùng của chồng danh thiếp phát xong, mọi người bắt đầu chuyển chúng vòng quanh, chụp ảnh danh thiếp của ông với điện thoại di động. Gian phòng bây giờ chỉ được chiếu sáng nhờ ánh sáng lờ mờ của mặt trời mùa đông. Các nhân viên bảo vệ đứng phía sau chờ để khóa cửa nhưng đám đông mấy chục người không để cho giáo sư Trung đi. Đối với họ, ông đã nắm giữ một chìa khóa cho hiện tại: quá khứ.

Ian Johnson

* Bài tiểu luận này được làm gọn từ quyển The Oxford Illustrated History of Modern China (Lịch sử Trung Quốc hiện đại qua hình ảnh của Oxford), sẽ được xuất bản bởi OUP vào ngày 23 tháng 6

 Nguyên văn: China’s memory manipulators (Guardian 8-6-16)

Bản dịch của Phan Văn Song

(Viet-studies)
16:42 Unknown
Nhà cầm quyền của đất nước này không những bưng bít lịch sử mà còn tái tạo lại nó để phục vụ hiện tại. Họ biết rằng, trong một nước cộng sản, sự thay đổi thường bắt đầu khi quá khứ bị thách thức

Đường phố Bắc Kinh
Lần đầu tiên khi tôi đến Trung Quốc vào năm 1984, các bạn học nước ngoài của tôi và tôi ở Đại học Bắc Kinh thường chơi một trò chơi với một cuốn sách hướng dẫn cũ. Đó là cuốn Nagel’s Encyclopaedia Guide: China (Sách hướng dẫn bách khoa của Nagel: Trung Quốc), được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1968 tại Thụy Sĩ và nêu các mô tả về các địa điểm văn hóa quan trọng được các nhà ngoại giao và học giả Pháp đến viếng. Chìa khóa cho chúng tôi là họ đã thu thập thông tin trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, tức là chỉ ngay trước khi Mao tung ra Cách mạng Văn hóa phá hủy hàng chục ngàn nơi thờ phượng và địa điểm lịch sử trên toàn Trung Quốc. Chúng tôi tìm một nơi ở Bắc Kinh và đạp xe đến để xem còn lại những gì. 

Tôi nhớ chuyến đi tìm Ngũ Tháp Tự, một ngôi chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ 15 và gồm có năm tháp nhỏ trên một nền đá khổng lồ. Quyển Nagel nói là hầu hết đã bị phá hủy trong bạo loạn hồi cuối thế kỷ 20, và đầu thế kỷ 19, nhưng năm tháp nhỏ vẫn còn ở đó. Trên bản đồ Bắc Kinh thập niên 1980 không thấy có nó, nhưng cuốn Nagel kích thích chúng tôi. Ngôi chùa đó có còn không? 

Chúng tôi đạp xe tới đường Bạch Thạch Kiều (Baishiqiao/白石桥) và cố chồng bản đồ “Pekin” cũ của Nagel lên bản đồ của một Bắc Kinh cạn kiệt sau Cách mạng Văn hóa. Cuối cùng chúng tôi đã phải dừng lại và hỏi thăm. Sau nhiều cố gắng không kết quả, chúng tôi được dẫn qua cổng một nhà máy và vào đền thờ nằm khuất ở phía sau. Tất cả những gì còn lại là nền đá lớn, bên trên là 5 tháp đá. Ngói đã rơi ra khỏi mái nhà, và bia đá có khắc chữ và hoa văn bị vở bể nằm trên mặt đất. Cỏ dại mọc khắp nơi. Dù vậy, chúng tôi bước lên nền đá với một cảm giác kỳ lạ: ở đây có một cái gì đó đã biến mất khỏi bản đồ hiện nay nhưng vẫn tồn tại. Trong một công trình kiến trúc, chúng tôi có câu chuyện về tính vĩ đại văn hóa của Trung Quốc, về xâm lược nước ngoài, về tự hủy diệt văn hóa và cũng có câu chuyện về sự sống sót. Ở đây, nhờ cuốn sách hướng dẫn lạ mà chúng tôi có được lịch sử Trung Quốc một cách cô đọng - quá khứ cùng hiện tại. 

Quan sát Trung Quốc đôi khi đòi hỏi một ống kính như ống kính của Nagel. Đi bộ trên đường phố ở các thành phố của Trung Quốc, lái xe trên đường quê và đi viếng các trung tâm hấp dẫn du khách có thể bị mất phương hướng. Một mặt, chúng ta biết đây là một đất nước mà một nền văn minh phong phú từng tồn tại hàng nghìn năm, tuy nhiên chúng ta lại bị choáng ngợp bởi một cảm giác mất gốc. Các thành phố của Trung Quốc trông không có vẻ cổ xưa. Ở nhiều thành phố cũng có các địa điểm văn hóa và những bọc nhỏ cổ xưa nhưng nằm giữa một biển bê tông. Khi chúng ta bắt gặp quá khứ dưới dạng một ngôi đền cổ hay một lối đi hẹp, chỉ một chút điều tra sẽ cho thấy phần lớn là được tái tạo. Nếu bây giờ bạn quay trở lại chùa Ngũ Tháp, bạn sẽ thấy một ngôi chùa hoàn toàn tân trang, không một viên gạch hoặc ngói không đúng chỗ. Nhà máy đã bị kéo đổ và thay bằng một công viên, một bức tường, và một điểm bán vé. Chúng ta có thể đứng đúng ngay vị trí của cái đó gì cổ xưa nhưng chất lịch sử đã bị loãng đi đến mức như thể nó đã biến mất. 

Điều này nói cho chúng ta biết gì về một đất nước? Người lạc quan sẽ có cảm giác của sự năng động - ở đây, cuối cùng, là một đất nước đang vực dậy đi tới trong khi phần còn lại của thế giới trì trệ hoặc chậm rãi tiến về phía trước. Điều này luôn được nói với sự ngạc nhiên và sợ hãi. Đỉnh cao của thời đại kỳ lạ này xuất hiện ngay trước khi Thế vận hội năm 2008, khi truyền thông phương Tây tự va vấp cố tuôn ra những lời khen ngợi dạt dào nhất cho sự trỗi dậy / chuyển đổi / trẻ hóa (chọn từ sáo của bạn) của Trung Quốc. Điển hình là một nhà phê bình kiến trúc của New York Times, ông nói như mê sảng khi đến Bắc Kinh vào năm 2008 về “cảm giác không thể tránh được rằng bạn đang đi qua một cánh cổng đến một thế giới khác, một thế giới mà sự quyết tâm thay đổi đã bỏ các nước phương Tây ở lại trong đám bụi mù” và kết luận rằng “người ta tự hỏi không biết bao giờ phương tây mới bắt kịp”. 

Những cảm xúc khác mơ hồ hơn. Cảm giác cùn mằn nhất mà tôi nếm trãi là: một quốc gia đã xóa sạch hoàn toàn quá khứ của mình và sau đó tái tạo lại như thế - thì có thể tin cậy được hay không? Tại một quốc gia, hoặc một dân tộc, hay một nền văn minh, cái gì gây phiền toái nhiều đến nỗi lại vẫn không thoải mái sâu đậm với lịch sử của mình? Lịch sử được tán dương ở Trung Quốc. Người dân thường sẽ cho bạn biết mỗi khi có cơ hội rằng họ có 5 000 năm văn hóa: wuqiannian de venhua (ngũ thiên niên đích văn hoá). Còn đối với chính phủ, đó là mốc chuẩn cho tính chính đáng (legitimacy) trong hiện tại. Nhưng nó cũng là con quái thú đang ẩn trong bóng tối. 

Thật khó để nói quá vai trò của lịch sử trong xã hội Trung Quốc do một đảng cộng sản điều khiển. Chủ nghĩa cộng sản tự nó được dựa trên thuyết tất yếu lịch sử: một trong những luận điểm của Marx là thế giới đang vận động không thể tránh khỏi về phía chủ nghĩa cộng sản, một lập luận mà những người xây dựng chế độ như Lenin và Mao đã sử dụng để biện minh cho việc đi lên nắm quyền bằng bạo lực. Ở Trung Quốc, chủ nghĩa Mác được xếp lên trên nhiều ý tưởng cũ hơn về vai trò của lịch sử. Mỗi triều đại kế tiếp đã viết lịch sử của triều đại trước nó, và hệ tư tưởng chính trị chiếm ưu thế - cái mà hiện được gọi chung là Nho giáo - được dựa trên khái niệm vốn lý tưởng cho việc cai trị phải được tìm thấy trong quá khứ, với những vị vua đạo đức mô phỏng chúng. Thành quả là quan trọng nhưng chủ yếu như là bằng chứng về sự phán xét của lịch sử. 

Điều đó có nghĩa là lịch sử được kềm giữ tốt nhất với dây cương thật chặc. Ngay sau khi lên nắm quyền làm tổng bí thư đảng Cộng sản vào năm 2012, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tái nhấn mạnh quan điểm này trong một bài phát biểu quan trọng về lịch sử được công bố trên Nhân dân nhật báo , tờ báo chính thức của đảng. Tập Cận Bình là con của một quan chức đảng hàng đầu góp phần sáng lập chế độ, nhưng bị Mao thất sũng, và phải chịu đày đoạ trong Cách mạng Văn hóa. Một số người nghĩ rằng Tập Cận Bình có thể có một cái nhìn phê phán hơn đối với thời đại Mao, nhưng trong bài phát biểu nêu trên, ông nói rằng không nên sử dụng 30 năm cải cách bắt đầu dưới thời Đặng Tiểu Bình trong những năm cuối thập niên 1970 để “phủ nhận” 30 năm đầu của chế độ cộng sản dưới thời Mao.

Lý do không nói ra cho việc Tập Cận Bình không sẵn sàng từ khước thời đại Mao là Mao không chỉ là Stalin của Trung Quốc. Liên Xô đã có thể loại bỏ Stalin vì còn có Lenin như cha đẻ của nó. Đối với đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao là Stalin và Lenin kết hợp lại; tấn công Mao và thời đại của ông là tấn công nền tảng của nhà nước Cộng sản. Năm năm sau khi Cách mạng Văn hóa kết thúc với cái chết của Mao Trạch Đông vào năm 1976, đảng đã đưa ra một tuyên bố lên án thời đại đó và vai trò của Mao lúc đó, nhưng tuyên bố đó cũng đã kết thúc thảo luận thêm về Mao qua việc khẳng địnhrằng “những đóng góp của ông cho cách mạng Trung Quốc vượt trội hơn những sai lầm của ông. Công của ông là chính và lỗi của ông là phụ.” 

Nhưng trên một bình diện rộng hơn, lịch sử đặc biệt nhạy cảm vì sự thay đổi trong một quốc gia cộng sản thường bắt đầu với việc lịch sử bị thách thức. Chẳng hạn, trong thập niên 1980 các nhóm như hội nghiên cứu lịch sử Tưởng niệm đã biến dạng thành một phong trào xã hội làm suy yếu Liên Xô qua việc phơi bày quá khứ bất ổn của nó. Trung Quốc hiện nay mạnh hơn Liên Xô thời Gorbachev, nhưng ký ức vẫn ngoài khả năng nắm giữ của chính phủ, đặt ra thách thức cho một chế độ mà lịch sử làm nên tính chính đáng. Mặc dù theo định nghĩa, lịch sử là quá khứ, nhưng nó cũng là hiện tại và tương lai của Trung Quốc. 

Lịch sử bị bưng bít? 

Các thành phố Trung Quốc là thành phố ma. Không phải theo nghĩa lãng phí về bất động sản – nhiều khu phức hợp rộng lớn xây dang dở, bỏ không, và đổ nát - dù thật sự có một số như vậy. Thay vì thế các trung tâm đô thị của đất nước này được xây dựng trên một quá khứ bị xoá mất mà chỉ đôi khi mới len lẫn vào hiện tại qua những cái tên lạ tai của đường phố, công viên, và điểm dừng tàu điện ngầm. 

Tại Bắc Kinh, cũng như hàng chục thành phố trên khắp đất nước, đường phố rất thường được đặt tên theo mối quan hệ của chúng với những thứ không còn tồn tại, những địa điểm hồn ma, chẳng hạn như cổng thành, đền, vòm tưởng niệm, và các sự kiện lịch sử bị lãng quên. Chẳng hạn, tại thủ đô, Bộ Ngoại giao nằm trên Chiêu Dương môn ngoại (Chaoyangmenwai/朝阳门外), tức là con đường ngoài cổng Chiêu Dương. Chỉ một vài trăm mét về phía tây, đường này đổi tên thành Chiêu Dương môn nội (Chaoyangmennei/朝阳门内), tức là con đường bên trong cổng Chiêu Dương. Ở giữa là đường Nhị Hoàn (二环: đường Vòng tròn thứ hai). Tên các con đường nàychỉ có ý nghĩa nếu bạn nhận ra rằng con đường vòng tròn này được xây dựng trên vị trí các bức tường thành, có một lối đi vào ngay ở đó, Chiêu Dương môn (Chaoyangmen/朝阳门), tức cổng Chiêu Dương. Tường thành đã trở thành một xa lộ và cổng vào trở thành ngã chuyển đổi ra vào (interchange). Không có gì khác ngoài những cái tên đường còn tồn tại trong khu phố này nhắc nhở bạn về các kiến trúc hồn ma đó. 

Luôn luôn có cách cho một người hoài nghi giảm nhẹ một hiện tượng bằng cách nói, nhưng gượm đã, rằng điều đó cũng tồn tại ở nơi khác. Ta có thể nói rằng tất cả các thành phố đều có các khu phố, các con đường được đặt theo tên những con người hoặc các sự kiện từ xa xưa không ai còn nhớ tới trừ những kẻ mọt sách. Điều này tất nhiên là đúng, nhưng ở Trung Quốc việc chuyển dịch về văn hóa lớn hơn, và các rào cản đối với ký ức cao hơn. Trung Quốc quả có bách khoa toàn thư trực tuyến, cũng như những cuốn sách giải thích lịch sử của Bắc Kinh. Một số thậm chí rất đắc hàng, chẳng hạn như công trình mở đường Thành Ký (城记:Sách ghi chép về thành phố) của phóng viên Vương Quân (Wang Jun/王军) thuộc Tân Hoa Xã. Nhưng các sách này đều bị biên tập mạnh bạo, và đòi hỏi phải có kiến thức văn hóa mà hầu hết người Trung Quốc ngày nay đều thiếu. Quay trở lại những năm 1990, vẫn có thể tìm thấy các nhà hoạt động công dân đã tranh đấu để gìn giữ thành phố cổ vì nó có ý nghĩa đối với họ. Ngày nay, rất ít dân Bắc Kinh đích thực sống trong thành phố cũ; họ đã dời chỗ ở đến các vùng ngoại ô và được thay thế bởi những di dân (những người nghèo từ vùng nội địa của Trung Quốc, hoặc người hồi hương giàu có) không có chút liên hệ với quá khứ của thành phố. Thành phố có những câu chuyện của nó, nhưng là bí ẩn đối với hầu hết cư dân. 

Một khác biệt nữa là những nỗ lực kỷ niệm quá khứ thường làm hiểu sai hoặc quá rời rạc thành vô nghĩa. Chẳng hạn, hầu như tất cả các bảng ghi ở di tích lịch sử đều nêu ra một lịch sử không trọn vẹn hoặc những điều dối trá trắng trợn. Ví dụ, cách một vài bước về phía đông Bộ Ngoại giao là Đông Nhạc miếu (miễu núi Đông). Phía trước nó có một bia đá ghi rằng nó đã là một công trình bảo tồn cấp quốc gia kể từ năm 1961. Một tấm bảng thứ hai trên tường cho biết thêm một vài chi tiết, giải thích ngôi miếu được xây dựng như thế nào vào thời nhà Nguyên (1271-1368) và là một đền thờ chính của đạo Lão. 

Thật ra, ngôi miếu đã bị rút ruột hoàn toàn trong Cách mạng Văn hóa, tượng trong miếu bị thiêu huỷ hoặc chở ra nhà kho rồi bị phá hủy ở đó. Trong số khoảng 50 tượng hiện có trong miếu chỉ có 5 tượng cổ, số còn lại đều là tượng mới. Năm tượng cổ thuộc một miếu khác, Tam Quan miếu (Sanguanmiao/三官庙: Miễu ba vị quan). Sau khi thời đại Mao kết thúc vào cuối thập niên 1970 và các đền chùa mở cửa trở lại, người ta không thể xác định được các tượng của miếu Đông Nhạc ở đâu nên mấy tượng của miếu Tam Quan vốn vẫn còn bị một văn phòng chính phủ chiếm, đã được đưa về đó. 

Du khách cũng không biết được gì về việc diện tích của ngôi miếu đã được bị giảm đi rất nhiều như thế nào trong Cách mạng Văn hóa vì nó đã bị các cơ quan an ninh quân sự và công an chiếm. Khi thời đại Mao kết thúc, họ bỏ trống phần lõi ở giữacủa ngôi miếu - ba khoảng sân và các kiến trúc mà ta thấy hiện nay. Phần còn lại do Công an chiếm cho đến thập niên 1990, và cuối cùng bị phá bỏ và biến thành đất thương mại vào đầu thập niên2000. Các kiến trúc còn lại tạm hoạt động như một ngôi miếu. Khi quân đội, công an dời đi, Bộ Văn hóa chuyển vào và biến ngôi miếu thành một bảo tàng văn hóa dân gian. Chỉ sau một cuộc đấu tranh kéo dài thì Hội Đạo Lão Trung Quốc mới giành lại quyền kiểm soát một phần của ngôi miếu vào đầu thập niên 2000, nhưng vẫn phải chia sẻ không gian. 

Tất nhiên, các bảng ghi chẳng giải thích chút gì về điều này. Thay vào đó, người ta có ấn tượng rằng ngôi miếu luôn luôn là như thế- một di tích xưa 800 năm trong quá khứ tuyệt vời của Trung Quốc. Lịch sử mà tôi đã phác thảo ra ở đây không phải là điều khẳng định hoặc có dựa trên các bằng chứng tài liệu chắc chắn mà là một cái gì đó được tôi tái tạo qua việc quan sát ngôi miếu hơn hai thập kỷ qua và qua việc chuyện trò với các thầy cúng đạo Lão hiện đang làm việc ở đó. Nhưng cho đến khi kho lưu trữ thành phố được mở thì đó có lẽ là điều tốt nhất chúng ta có thể hy vọng tới. 

Lịch sử bị tái tạo

Đảng Cộng sản không chỉ bưng bít lịch sử mà còn tái tạo lại nó để phục vụ hiện tại. Ở Trung Quốc, điều này tiếp sau việc đảng gần tới tự hủy diệt trong Cách mạng Văn hóa, dẫn đến một tìm kiếm tuyệt vọng cho tính chính đáng về hệ tư tưởng. Lúc đầu, chủ yếu là về kinh tế, nhưng sau vụ thảm sát người biểu tình ủng hộ dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 6 năm 1989, đảng đã bắt đầu tự thúc đẩy bản thân tích cực hơn như những kẻ bảo vệ cho nền văn hóa và truyền thống Trung Quốc. 

Một cách mà họ đã bắt đầu làm điều này là tự định vị mình như người bảo vệ “di sản văn hóa phi vật thể”, một thuật ngữ lấy theo Unesco, tổ chức này giữ một danh sách các truyền thống quan trọng đối với các quốc gia cụ thể theo từng nước. Trái ngược với các đia điểm di sản thế giới vốn là những cấu trúc vật lý như Vạn Lý Trường Thành hoặc Tử Cấm Thành, di sản phi vật thể bao gồm âm nhạc, ẩm thực, sân khấu, lễ hội.

Mãi tới thập niên 1990 Trung Quốc, một số trong những truyền thống này vẫn bị gán là “mê tín phong kiến”, một thuật ngữ xúc phạm trong từ vựng của cộng sản đồng nghĩa với các tập quán văn hóa lạc hậu. Ví dụ, đám tang kiểu xưa bị bài xích khắp nơi, nhưng bây giờ lại nằm trên danh sách văn hóa phi vật thể của chính phủ. Tới âm nhạc tôn giáo vốn chỉ trình diễn trong các dịp lễ hội trong các đền thờ đạo Lão cũng thế. 

Kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 11 năm 2012, Tập Cận Bình đã tự giấu mình trong lớp vỏ bọc truyền thống triệt để hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc kể từ khi hệ thống đế chế sụp đổ vào năm 1911. Xây dựng trên công việc của các tiền nhiệm, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào và lời kêu gọi về một “xã hội hài hòa” (hexie shehui/和谐社会) nghe có vẻ của đạo Lão, chương trình tư tưởng của Tập Cận Bình bao gồm việc thừa nhận rõ ràng các hình tượng đạo đức và tôn giáo truyền thống. 

Năm 2013, theo một bài báo tin tức ngày 5 tháng 12, Tập Cận Bình đi thăm quê hương Khổng Tử ở Khúc Phụ (Qufu/曲阜), nhặt cuốn Luận ngữ - một cuốn sách về các câu nói và ý tưởng của nhà triết học vĩ đại này - cùng cuốn tiểu sử của ông này, và tuyên bố: “tôi muốn đọc cẩn thận hai quyển này”. Ông cũng đặt ra câu cách ngôn kiểu Khổng Tử của riêng mình - “một nhà nước không có đạo đức thì không thể trường tồn”. Năm sau, ông trở thành nhà lãnh đạo đảng Cộng sản đầu tiên tham gia lễ kỷ niệm sinh nhật của Khổng Tử. Phát biểu tại Hội Nho giáo quốc tế, Tập Cận Bình nói: “để hiểu Trung Quốc ngày nay, dân tộc Trung Quốc ngày nay, chúng ta phải hiểu văn hóa và huyết thống Trung Quốc, và nuôi dưỡng việc nắm giữ chính mãnh đất văn hóa riêng của dân tộc Trung Quốc”.Những lời bóng gió cổ điển của ông đã trở nên nhiều đến mức vào ngày 8 tháng 5 năm 2014, tờ Nhân dân nhật báo đã phải đăng một trang đầy để giải thích chúng. 

Không lâu sau khi Tập Cận Bình nắm quyền lãnh đạo đảng, những lời hô hào truyền thống đã chiếm lĩnh không gian công cộng của các thành phố ở Trung Quốc. Ví dụ vào giữa năm 2013, nhiều áp phích bắt đầu treo khắp Trung Quốc, khéo léo chiếm dụng nghệ thuật truyền thống Trung Quốc, ghép những hình ảnh này với những thứ liên quan tới “Giấc mơ Trung Quốc”. 

Giấc mơ Trung Quốc là đóng góp của Tập Cận Bình vào kho khẩu hiệu quốc gia - mỗi nhà lãnh đạo đứng đầu phải có ít nhất một khẩu hiệu. Hầu hết đều đề cập đến các chủ thuyết bí hiểm, chẳng hạn như  thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân, thuyết này đặt ra công việc cho đảng là phải đại diện cho một mảng xã hội rộng lớn hơn so với trước đây. Ngược lại, ý tưởng Tập Cận Bình đơn giản để nắm bắt hơn – ai mà không có một giấc mơ? Khẩu hiệu trở nên liên kết với nhiều mục tiêu, trong đó có chủ nghĩa dân tộc và việc Trung Quốc vươn lên nổi trội trên toàn cầu, nhưng ở trong nước, hình ảnh của nó gần như luôn luôn liên quan đến văn hóa và đạo đức truyền thống. 

Ở Trung Quốc, hầu hết việc tuyên truyền lâu nay trông nhàm chán: thường là biểu ngữ đỏ với chữ trắng hoặc vàng cổ vũ người dân theo chủ trương của đảng Cộng sản, tuân thủ điều tra dân số, hoặc làm cho khu vực địa phương họ đẹp hơn. Tuy nhiên, các áp phích Giấc mơ Trung Quốc thì đầy màu sắc, tươi sáng và xinh xắn. Nhiều áp phích trong số đó chứa tranh vẽ những tượng đất sét nhỏ được nặn bởi “Nê nhân Trương” (Niren Zhang/泥人张: người nặn đất sét họ Trương), một nghệ nhân nổi tiếng được ưa thích và nổi tiếng tại Trung Quốc như Norman Rockwell ở Mỹ. Theo truyền thống, những tượng nhỏ bằng đất sét này thể hiện các cảnh trong đời sống hàng ngày và tôn giáo, hay giải trí, chẳng hạn như các nhân vật trong Kinh kịch, hay các vị thần như Quan Công. Nhiều bộ tượng này đã được gửi đến hội chợ thế giới trong những năm cuối của triều đại nhà Thanh (1644-1911) như là ví dụ về nghệ thuật Trung Quốc. 

Nổi tiếng nhất trong những áp phích Giấc mơ Trung Quốc có ảnh tượng của một cô bé mũm mĩm,nghiêng đầu  mơ màng của người nặn tượng họ Trương.Bên dưới là một bài thơ đúc kết ước mơ cá nhân và đất nước:

Ôi Trung Hoa
Giấc mơ của ta
Một giấc mơ hoa

Tác giả của bài thơ này là Nhất Thanh (Yi Qing/一清), bút danh của Tạ Liễu Thanh (Xie Liuqing /谢柳青). Ông Thanh là một biên tập viên của tạp chí Thế giới Hán ngữ và đứng đầu Blog nổi tiếng của Trung Quốc Salon, một blog trao đổi chủ yếu với các vấn đề dân tộc và được đăng ký dưới trang web chính thức của Bộ tuyên truyền. Thanh cũng viết kịch và nhạc kịch, tất cả đều ca ngợi đảng và đặc biệt là Mao. Vài chục tác phẩm của ông dựa trên những sự kiện lịch sử lớn đã được xuất bản, dựng thành phim hoặc chương trình truyền hình, hay trình diễn ở nhà hát. Một số bài viết trên blog của ông đã được đăng trên tờ Cầu Thị (求是: Tìm kiếm điều đúng), tạp chí tư tưởng chính của đảng. 

Ở một mức độ, ông Thanh có thể chỉ đơn giản là xem như là một nhân viên mù quáng của chính quyền, nặn ra chất liệu cho chiến dịch mới nhất của nhà nước. Nhưng khi tôi đến thăm ông vào năm 2013, câu chuyện của ông hóa ra là thú vị hơn, và phát hiện ra những kỹ thuật tuyên truyền tinh vi được đảng cộng sản sử dụng trong thập niên 2010 để tạo ra một hệ tư tưởng có thể liên kết chủ nghĩa cộng sản với những giá trị truyền thống. 

Ông Thanh mời tôi đến phòng làm việc của ông. Hóa ra đó là một phòng tại khách sạn Ordos ở Bắc Kinh. Tôi ngạc nhiên khi biết rằng Xie không có một phòng làm việc phù hợp tại công sở vì ông không phải là quan chức chính phủ như tôi đã tưởng mà chỉ là một nghệ sĩ tự do (freelancer). Chúng tôi trò chuyện một lúc và ông nói với tôi ông gốc ở Hồ Nam, cùng quê với Mao Trạch Đông. Hầu hết các công trình của ông Thanh là nói về Mao, người mà ông ta cho là một anh hùng của Trung Quốc hiện đại. Ông Thanh nói “Bạn có thể chỉ trích ông ấy, nhưng bạn không thể phủ nhận rằng ông ấy quan trọng. Tôi tin chắc điều đó.”

Tham gia với chúng tôi có thêm Trương Gia Bân (Zhang Jiabin/张嘉斌), một biên tập viên của nhà xuất bản Hồng Kỳ, một công ty của đảng cộng sản vừa xuất bản một bộ sưu tập của các áp phích, và cũng là thơ của Tạ Liễu Thanh. Ông Thanh cho chúng tôi xem một đoạn video ngắn của một buổi lễ ca tụng các áp phích Giấc mơ Trung Quốc. Trong clip này, ông Thanh giải thích rằng ông đã nhìn thấy bức tượng dấu ấn cô gái mũm mĩm lúc ở tại một cuộc triển lãm ở khu Hoài Nhu (Huairou/怀柔) Bắc Kinh. Ông đăng nhiều ảnh trực tuyến với một vài câu thơ đối.

Đầu năm 2013, khi ban văn minh, một cơ quan chính phủ, lên kế hoạch cho một chiến dịch quảng bá ý tưởng về giấc mơ Trung Quốc của Tập Cận Bình, họ đã nhìn thấy những bài thơ của Tạ Liễu Thanh cùng hình ảnh của các nhân vật. Ông đã gặp với các quan chức và cùng hợp sức suy nghĩ nẩy ra ý tưởng mở rộng chiến dịch bao gồm nhiều loại hình văn hóa truyền thống, kể cả tranh dân quê và tranh khắc gỗ.

“Họ nói, này, chúng tôi cần nhiều thơ hơn nữa vì vậy tôi chỉ thảo vội ra một cách nhanh chóng và bây giờ chúng hiện lên,” ông nói khi đoạn video kết thúc. “Nó phải là một chiến dịch dài 60 000km. Đó là số kilomet đường cao tốc có ở Trung Quốc - chúng tôi nói đùa rằng phảiphủ nó trên mỗi mét đường”.

Đó khó thể là một sự cường điệu. Thật khó để tránh các áp phích.Có lúc các áp phích cổ xuý các giá trị truyền thống như lòng hiếu thảo ( “trung thực và quan tâm, được truyền lại qua nhiều thế hệ”), lúc khác lại là lòng ngưỡng mộ triệt để đối với đảng Cộng sản ( “cùm dưới chân, còng trên tay / cỏ mạnh chịu được gió to / đảng viên Cộng sản lên đường / núi có thể lay nhưng lòng người không hề chuyển / nhiệt huyết hoà hoa xuân sẽ viết nên lịch sử hôm nay “). Đôi khi chúng chỉ đề cao tinh thần yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc (“Đất nước ta tươi đẹp” và “Đó là mùa xuân cho tương lai của cha chúng ta”). Tất cả cho thấy làm saocó đồng minh nào tốt hơn lịch sử đối với chính phủ hiện nay. 

Lịch sử được phục hồi 

Đôi khi việc lịch sử nổi lên trở lại trong ý thức cộng đồng là không có chủ ý và phi chính trị. Điều này làm tôi chú ý tôi một ngày vào năm 2014 khi tôi đi nghe một buổi nói chuyện tại văn phòng chính của Cục Lưu trữ Quốc gia, bên cạnh Công viên Bắc Hải ở Bắc Kinh. Diễn giả là Lưu Quốc Trung (Liu Guozhong/刘国忠), giáo sư tại Đại học Thanh Hoa có giọng nói nặng và đôi mắt nhỏ thường biến mất khi ông cười. Ông Trung nói tự do không theo ghi chép sẵn trong 90 phút về một cái gì đó có vẻ mơ hồ nhưng lại dần dần làm lay động giới trí thức Trung Quốc: việc phát hiện bản văn dài 2 500 năm trước đây bị thất lạc.

Các bản văn tiếng Trung xưa nhất được biết đến được gọi là giáp cốt văn. Viết trên mai rùa, chúng thường liên quan đến một phạm vi hẹp các chủ đề: các loại cây trồng nên trồng vào ngày nào, nhà vua có nên phát động một cuộc chiến tranh không? Kết hônra sao? Đi lại thế nào? Thông qua chúng, những mối quan tâm cơ bản của cuộc sống của vua có thể được đong đếm. 

Các bản văn mà chúng ta tìm hiểu về chúng ở đây được viết sau hơn một thiên niên kỷ trên các thẻ tre, chúng có chiều dài bằng đôi đũa. Những bản viết này không mô tả đủ thứ chuyện về cuộc sống của triều đình mà là loại văn bản đầu tiên (ur-text) của văn hóa Trung Hoa. Trong 20 năm qua, ba lô thẻ tre thuộc thời kỳ này đã được khai quật. Giáo sư Trung ở đó để giới thiệu lô thứ ba - và là lô lớn nhất - của khám phá này, bộ 2 500 thẻ tìm được đã được tặng cho Đại học Thanh Hoa năm 2008.

 Dự án này nhằm phân loại và nghiên cứu các thẻ được nhà sử học nổi tiếng nhất của Trung Quốc, Lí Học Cần (Li Xueqin/李学勤) lãnh đạo. Ông Cần đứng đầu nhiều dự án lớn, trong đó có một nỗ lực trong những thập niên 1990 để xác định thời gian các triều đại bán thần thoại cách đây khoảng 5 000 năm, chẳng hạn như Hạ và Thương, được xem như các triều đại sớm nhất trong nền văn minh Trung Quốc. Qua hàng nghìn năm, sự tồn tại của cac triều đại này xem như chuyện hiển nhiên, mặc dù không có văn bản hoặc các tài liệu khảo cổ học liên quan đến một số là có thể truy nguồn được (tính lịch sử của thời nhà Hạ đặc biệt đáng nghi ngờ). Vào đầu thế kỷ 20, các nhà sử học ở Trung Quốc bắt đầu một phong trào “cổ đại nghi vấn”, chấn vấn sự tồn tại của các triều đại này, khẳng định rằng chúng chỉ đơn thuần là chuyện hoang đường. Việc đó chẳng những là một tranh luận trí thức mà nó còn hơn thế, thách thức cả sự chắc chắn ấp ủ sâu kín trong người Trung Quốc rằng nền văn minh của họ là một trong những nền văn minh lâu đời nhất trên hành tinh, xa xưa như Ai Cập cổ đại. Nỗ lực của ông Cần cốt yếu là đẩy lùi sự hoài nghi này, qua việc sắp xếp các bằng chứng cho thấy các triều đại đó thực sự tồn tại.

Các thẻ tre mà ông Trung mô tả thuộc một thời kỳ sau đó rất nhiều, nhưng chúng thách thức tính chắc chắn của nền văn hóa Trung Quốc theo những cách có thể sâu sắc hơn. Các bản văn này bắt nguồn từ thời Chiến quốc, một thời đại hỗn loạn ở Trung Quốc kéo dài từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 3 trước Công nguyên. Tất cả các trường phái tư tưởng chính của Trung Quốc tồn tại ngày nay đều bắt nguồn từ thời kỳ này, đặc biệt là Lão giáo và Nho giáo vốn là hệ tư tưởng chính trị chiếm ưu thế của đất nước, mà  các vị vua và hoàng đế noi theo - ít nhất trên lý thuyết - cho đến thế kỷ thứ 20.

Các thẻ tre làm thay đổi cách chúng ta hiểu về thời kỳ này. Một số người đã so sánh tác động của nó đối với sự hiểu biết về quá khứ của Trung Quốc với cách mà quá khứ đã được nhìn trong thời Khai sáng của châu Âu, một giai đoạn khi các văn bản cốt lõi của phương tây lần đầu tiên được phân tích như là tài liệu lịch sử thay vì là văn bản được chuyển giao nguyên vẹn từ thời xa xưa. “Như thể đột nhiên bạn có các văn bản bàn luận về Socrates và Plato mà bạn không biết là có tồn tại,” Sarah Allan, giáo sư đại học Dartmouth từng làm việc với ông Cần và ông Trung trong dự án, nói với tôi một vài tháng trước khi tôi nghe ông Trung nói: “Mọi người cũng nói nó giống như các cuộn giấy tài liệu cổ ở biển Chết, nhưng chúng quan trọng hơn thế. Đó không phải là tài liệu giả mà những văn bản này là từ thời kỳ khi mà phần cốt lõi của triết học Trung Quốc đang được thảo luận. Chúng đang làm biến đổi sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử Trung Quốc“. 

Một trong những ý tưởng đáng ngạc nhiên đi vào trong các văn bản mới là những ý tưởng vốn chỉ được nhắc đến trong các sách kinh điển Nho giáo hiện nay được phát hiện như là trường phái tư tưởng toàn diện thách thức những ý tưởng truyền thống chính yếu. Ví dụ, một bản văn lập luận ủng hộ việc chọn người theo tài đức mạnh mẽ hơnrất nhiều so với được thấy trong các kinh sách hiện đang được biết đến của Nho giáo. Cho đến nay, kinh sách Nho giáo chỉ cho phép việc thoái vị hoặc việc thay thế một nhà cai trị như là điều ngoại lệ hiếm hoi; nếu không phải là cha truyền con nối ngôi vua - một quan điểm theo hướng thành lập và phản cách mạng nhiều hơn. Các bản văn mới lập luận chống lại điều này. Đối với một nhà nước độc tài tự bọc mình trong “truyền thống” để biện minh cho quyền cai trị vĩnh viễn, ý nghĩa của trường phái mới này là tế nhị nhưng thú vị. Allan nói với tôi “Đó không phải là kêu gọi dân chủ mà nó lập luận mạnh mẽ hơn cho việc cai trị dựa trên tài đức thay vì cha truyền con nối.” 

Trở lại khán phòng bên cạnh Công viên Bắc Hải, giáo sư Trung tiếp tục nói về những phát hiện mới. Ông phóng các tiêu đề chính của tờ báo trên màn hình. Truyền thông ở Trung Quốc rất quan tâm, ông nói. Sau khi mỗi tập được phát hành, truyền thông Trung Quốc lao vào thảo luận về những phát hiện này, trong khi các blog và những người nghiệp dư cũng cố tự giải thích những phát hiện mới theo cách của mình. Khán giả chăm chú lắng nghe ông Trung khi ông vạch ra lịch trình xuất bản của nhóm Thanh Hoa. 

“Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi có 15 tập nữa, tức là thêm 15 năm nữa - cho đến khi tôi nghỉ hưu”, ông Trung vừa nói vừa cười. “Nhưng lúc đó bạn và những người khác sẽ tranh luận việc này cho đến cuối thế kỷ này. Nghiên cứu không dứt.” 

Giáo sư Trung kết luận và cúi chào khán giả. Ông tiếp tục nói cho tới hết 90 phút được phân bổ còn các nhân viên phụ trách trông cho mau hết để ra về. Ngay khi ông rời bục giảng là họ đã bắt đầu tắt đèn. Nhưng khán giả đổ xô lên sân khấu, dồn dập đưa ra nhiều câu hỏi cho giáo sư Trung. Có một ông từ Hội Nghiên cứu kinh Dịch hỏi họ sẽ xử lý bản văn mới này như thế nào về việc bói toán. Một sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Bắc Kinh háo hức hỏi về ý nghĩa chính trị của sự thoái vị. Giá o sư Trung đã trả lời tất cả lúc phân phát danh thiếp. Khi tờ cuối cùng của chồng danh thiếp phát xong, mọi người bắt đầu chuyển chúng vòng quanh, chụp ảnh danh thiếp của ông với điện thoại di động. Gian phòng bây giờ chỉ được chiếu sáng nhờ ánh sáng lờ mờ của mặt trời mùa đông. Các nhân viên bảo vệ đứng phía sau chờ để khóa cửa nhưng đám đông mấy chục người không để cho giáo sư Trung đi. Đối với họ, ông đã nắm giữ một chìa khóa cho hiện tại: quá khứ.

Ian Johnson

* Bài tiểu luận này được làm gọn từ quyển The Oxford Illustrated History of Modern China (Lịch sử Trung Quốc hiện đại qua hình ảnh của Oxford), sẽ được xuất bản bởi OUP vào ngày 23 tháng 6

 Nguyên văn: China’s memory manipulators (Guardian 8-6-16)

Bản dịch của Phan Văn Song

(Viet-studies)

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Nước ta có 85 triệu người, đứng thứ 13 trong 200 nước trên thế giới, nếu kể cả Việt kiều là 88 triệu người. Theo tài liệu thì vào tháng 07-2007 dự kiến nước ta có 85.403.000 người! Như vậy chắc chắn không phải là nước nhỏ. Chúng ta có một lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã đánh bại chiến tranh xâm lược của hầu hết các cường quốc trên thế giới. Chắc chắn không phải là nước yếu. Thế hệ trẻ Việt Nam vứt vào môi trường Đại học nào ở nước ngoài đều học giỏi và rất nhiều người gốc Việt đang giữ các trọng trách tại các Trung tâm khoa học và công nghệ tiên tiến ở các nước phát triển . Chắc chắn trí tuệ dân mình chẳng chịu thua ai khi có điều kiện phát huy.

Nhưng chúng ta là nước nghèo và kém phát triển so với rất nhiều nước trên thế giới. GDP bình quân đầu người chỉ được có khoảng 640 USD (!). Mỗi năm hiện nay bình quân còn phải trả nợ 2 tỷ USD và càng ngày càng nhiều hơn nữa (!)
Thư
Do điều kiện công tác tôi có nhiều dịp sang Nhật Bản và lần nào tôi cũng không thể không tự hỏi: Vì sao nước Nhật có thể phát triển nhanh đến như vậy ?

Nước Nhật rộng gần 378 nghìn km2 , không hơn ta bao nhiêu (Việt Nam gần 330 nghìn km2) nhưng Nhật Bản gồm tới khoảng 6800 hòn đảo, trong đó chỉ có 5 đảo lớn, hơn nữa có tới 67% lãnh thổ là...núi! Đất trồng trọt thường xuyên chỉ chiếm 0,9% diện tích (!). Tỷ lệ này ở nước ta là 6,93% .Chúng ta không nghèo vì đất.

Nước Nhật có tới khoảng 80 núi lửa hoạt động (10% tổng số núi lửa hoạt động trên thế giới ). Nhật lại là nước có cấu tạo địa tầng không ổn định nên rất hay động đất. Các trận động đất lớn là: năm 1923 làm khoảng 90 nghìn người chết và 100 nghìn người bị thương, năm 1995 làm chết 6 nghìn người và 40 nghìn người bị thương... Trung bình mỗi năm Nhật có 4 cơn bão đổ vào và có lần sóng thần đổ vào Okushiri đã làm cho 230 người chết và bị thương. Ta không có những hoàn cảnh khó khăn như vậy .

Chữ Nhật khó đọc và khó học vì bên cạnh chữ phiên âm lại còn có tới 5 vạn chữ Hán (Kanji) viết nguyên dạng, mỗi người dân tối thiểu cũng phải thuộc 1945 chữ Hán (!). Lại còn chữ mềm (Hiragana) dùng để ghép âm tiếng Nhật , chữ cứng (Katakana) dùng để phiên âm tiếng nước ngoài. Chữ Quốc ngữ của ta đâu có khó như thế, người dân học 3 tháng đã đủ thoát nạn mù chữ !




Nước Nhật là một quốc gia đất chật, người đông và hầu như có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Dân số Nhật Bản là 127,46 triệu người (2006), đứng hàng thứ 7 trên thế giới , vậy mà vì diện tích nhỏ bé, lại nhiều núi non cho nên tuy theo lý thuyết thì bình quân mật độ dân cư là 335 người/km2 nhưng thực tế các khu dân cư có mật độ dân số rất cao. Người Nhật phải dành một nguồn ngoại tệ rất lớn (năm 2005 là 451,1 tỷ USD f.o.b.) để nhập khẩu nhiên liệu, kim loại, lương thực, thực phẩm... Nước ta có mật độ dân cư thấp hơn nhiều, là nước đứng thứ hai về xuất khẩu gạo, đứng thứ bậc cao trong xuất khẩu hải sản và nhiều sản phẩm cây công nghiệp (cà phê, điều, tiêu, cao su...), có nguồn dầu thô , khí thiên nhiên cùng nhiều khoáng sản quý giá khác đang được khai thác và còn có lượng dự trữ không nhỏ.

Nước Nhật phải đối đầu với tình trạng ô nhiễm hết sức nghiêm trọng . Mặc dầu Bộ luật Môi trường công bố năm 1967 đã làm giảm thiểu đi rõ rệt các bệnh có nguồn gốc từ các nhà máy (như bệnh hen suyễn do khí thải của công nghiệp lọc dầu, bệnh Mizumata do ô nhiễm thủy ngân, bệnh Itai-Itai do ô nhiễm cadmium...) nhưng đến nay vẫn chưa thể khắc phục được ô nhiễm từ các đám mây quang hóa, từ thủy triều đỏ (do sinh vật phù du phát triển quá mạnh khi tiếp nhận nhiều N và P trong nước thải) dẫn đến làm hạn chế sản lượng hải sản, các ô nhiễm do mưa acid gây thiệt hại cho mùa màng...

Vậy yếu tố nào làm cho nước Nhật nhanh chóng vươn lên từ đống tro tàn sau thế chiến II và hiện đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới?


Nhiều người Nhật nói với tôi: nguyên nhân chính là do đạt tới trình độ kỹ thuật cao nhờ trí thông minh và tinh thần lao động cần cù, nghiêm túc. Tôi cũng tin là như vậy.

Trong khi nhiều cường quốc lao vào công cuộc chạy đua vũ trang thì nước Nhật tập trung vào phát triển kinh tế. Độ độc lập ngoại thương (căn cứ vào tỷ lệ giữa tổng lượng mậu dịch (xuất nhập khẩu) trên tổng thu nhập quốc gia. Chỉ số này năm 1955 đã đạt tới 10%, nhưng từ năm 1955 đã tăng lên đến 20% và từ năm 1958 đến nay luôn giữ được ở mức 22-23%. Không có nước thứ hai nào trên thế giới đạt đến mức tăng trưởng như vậy. Năm 1960 GNP của Nhật chiếm 2,8% tổng sản lượng của thế giới, nhưng đến năm 1980 tỷ lệ này đã tăng lên đến 10,1% .GDP (tính theo PPP) của Nhật năm 2005 là 3 914 nghìn tỷ USD, trong khi GDP (tính theo PPP) của nước ta năm 2005 là 253,2 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của Nhật (f.o.b.)năm 2005 là 550,5 tỷ USD, trong khi của Việt Nam (f.o.b.)năm 2005 là 32,23 tỷ USD . Con đường công nghiệp hóa của Nhật phản ảnh rõ nét trong việc thu hẹp lại tỷ lệ nông dân. Nếu như năm 1960 còn có 26,8% dân số thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp thì đến năm 1992 tỷ lệ này chỉ còn 5,5%. Diện tích canh tác thu hẹp lại rất nhiều nhưng nhờ có cải tiến kỹ thuật mà năng suất nông nghiệp lại tăng rất nhanh. Dù sao thì nước Nhật đã chọn con đường không cần tự túc lương thực , thực phẩm mà đầu tư vào các ngành công nghiệp, trong đó có Công nghệ sinh học. Tôi không chỉ được đến làm việc tại những trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia hết sức hiện đại như NITE, RIKEN...mà còn vô cùng ngạc nhiên khi tiếp cận với các trung tâm Công nghệ sinh học dược phẩm của tư nhân với quy mô đầu tư và hiệu quả lớn hơn rất nhiều. Sản phẩm nông nghiệp dùng làm nguyên liệu để lên men các chủng vi sinh vật mang gen tái tổ hợp nhằm chế tạo ra dược phẩm thì giá trị tăng lên không hiểu là hàng nghìn hay hàng vạn lần? Chắc là còn cao hơn nữa rất nhiều (!)

Có thể nói dân chúng Nhật có cuộc sống rất sung túc khi GDP bình quân tính theo đầu người đã đạt đến 30 700 USD (2005) đứng thứ nhì thế giới. Tuổi thọ bình quân của người Nhật đứng vào hàng cao nhất thế giới (sau 60 năm mà tuổi thọ bình quân cả nam lẫn nữ đều tăng thêm ...30 tuổi (!).Tuổi thọ bình quân hiện nay với nam là 77,96, với nữ là 84,7 (2006) .

Sự tiến triển vượt bậc về trình độ khoa học và công nghệ không thể tách rời với các thành tựu về giáo dục. Giáo dục bắt buộc với bậc Tiểu học (6 năm) và Cấp II- gọi là Trung học (3 năm). Có thể học tiếp lên cấp III- gọi là Cao học (3 năm) hoặc vào thẳng các Trường chuyên nghiệp (5 năm). Gần 100% học sinh Nhật học tiếp cấp III sau đó nếu muốn chuyển sang Trường chuyên nghiệp chỉ cần học thêm 2 năm. Bậc học sau cấp III là Đại học (thường là 4 năm nhưng có trường chỉ 2 năm), bậc học mà ta gọi là Cao học thì Nhật gọi là Tu học. Sau bậc Thạc sĩ là bậc Tiến sĩ với trình độ tương đương với đẳng cấp quốc tế. Còn có các Trường dạy nghề (chỉ học 1 năm) và các Trường đặc biệt dành cho người khuyết tật. Ai cũng được học hành nhưng không phải ai cũng đổ xô vào việc có bằng được mảnh bằng Đại học. Có khoảng 48-50% học sinh cấp III vào học các Trường Đại học. Số còn lại chuyển sang học nghề và có tiền đồ cũng rất sáng sủa. Đã thi đỗ vào Đại học thi hầu như không có sinh viên nào không tốt nghiệp. Điều kiện nghiên cứu khoa học của thầy và trò ở các Trường Đại học là rất tốt.



Sự phát triển của giáo dục và khoa học- công nghệ ở Nhật được phản ánh một phần trên các giải Nobel. Có thể kể đến các giải Nobel dành cho các nhà khoa học Nhật Bản như Yukawa Hideki (Vật lý, 1949), Tomonaga Shin’ichiro (Vật lý, 1965), Esaki Reona (Vật lý,1973), Fukui Ken’Ichi (Hóa học, 1981), Tonegawa Susumu (Y học, 1987), Shirakawa Hideki (Hóa học, 2000), Noyori Ryoji (Hóa học, 2001), Masatoshi Koshiba (Vật lý, 2002), Koichi Tanaka (Hóa học, 2002). Trong Văn học có Kawabata Yasunari (1968), Oe Kenzaburo (1994). Ngoài ra còn có Nobel Hòa bình dành cho Thủ tướng Sato Eisaku (1974)...

Người Nhật chủ yếu làm việc trong các Công ty tư nhân. các Công ty này có truyền thống là tuyển dụng suốt đời và tạo được tâm lý Công ty là nhà của mình. Người Nhật nổi tiếng là làm việc nhiều . Tuy theo Luật lao động quy định mỗi tuần chỉ làm 5 ngày, mỗi ngày làm 8 tiếng nhưng giờ lao động ở Nhật thật sự là những giờ lao động nghiêm túc với kỷ luật rất tự giác.

Quan sát xã hội Nhật Bản, dù không được sâu sắc, nhưng theo tôi điều đáng học là việc tạo được điều kiện cho mọi người phát huy được hết năng lực của mình. Không có chuyện tiền lương không đủ sống nên đầu óc không tập trung hết mình vào trách nhiệm được giao như chuyện rất phổ biến ở nước ta. Tiền lương và tiền thưởng vừa theo thâm niên vừa theo năng lực và hiệu quả. Điều ấy làm cho ai nấy đều thấy cần gắn mình vào với Công ty hay đơn vị công tác và luôn tìm cách để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc được giao. Quản lý tài chính không quá phức tạp .Hầu như mọi thứ cần mua đều có ở các siêu thị (và các cửa hàng nhỏ phục vụ suốt ngày đêm). Tiêu pha chủ yếu bằng thẻ tín dụng, mua gì cũng được tính tiền (và thuế) qua máy tính nên khó có thể gian lận thương mại . Các cửa hàng khác hầu như chỉ là cửa hàng ăn và may mặc (vì ý thích của mọi người quá đa dạng).

Điều dễ thấy là lương công chức rất cao vì bộ máy hành chính rất gọn nhẹ. Một nước phát triển và đông dân như nước Nhật Bản mà chỉ có 9 bộ (!): bộ Tư pháp, bộ Ngoại giao, bộ Tài chính, bộ Giáo dục-Văn hóa-Khoa học (!), bộ Y tế- Phúc lợi, bộ Nông- lâm- ngư nghiệp, bộ Công nghiệp - Thương mại, bộ Quốc thổ-Giao thông, bộ Môi trường. Ngoài ra Thủ tướng chỉ còn bổ nhiệm thêm Bộ trưởng Tổng vụ, Bộ trưởng Ngân hàng, Trưởng ban Tổ chức Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Công an quốc gia ,Tổng tư lệnh Cục phòng vệ, Cục trưởng cục Khoa học -Kỹ thuật, Cục trưởng cục Kinh tế -Tài chính, Cục trưởng cục Cải cách hành chính.



Tôi đã có dịp giao thiệp với người phụ trách lĩnh vực Công nghệ sinh học trong Bộ Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản. Tôi không ngờ được ở vị trí quan trọng như vậy mà lại là một người còn rất trẻ, và tất nhiên là rất thạo chuyên môn. Làm việc với chuyên gia Nhật Bản phải theo một lịch trình chính xác hết sức về giờ giấc và thường với cường độ khá căng thẳng. Hiệu quả cao của công việc tất yếu phải lĩnh lương cao. Nhiều người cho rằng nước ta hiện nay có tình trạng không làm việc thật sự nên không có lương thật sự. Tôi nghĩ rằng muốn có lương thật sự thì phải rà soát lại từng cương vị và trách nhiệm công tác của mỗi người để không phải gánh mãi một biên chế quá khổng lồ và rất kém hiệu quả như hiện nay. Nghe nói ngày xưa ở nước ta bình quân 3000 người mới có một người ăn cơm Vua (!). Nếu theo tỷ lệ này thì nhẽ ra hiện nay số người ăn lương của Chính phủ không được quá 28 000 người (!). Không hiểu số người thuộc biên chế ăn lương của ngân sách trong cả nước hiện nay là gấp bao nhiêu lần so với con số này? Số người hưởng lương và phụ cấp ngay ở một xã hiện nay cũng thường không dưới vài chục người (!), hiện nay cấp Thôn cũng đang đòi hỏi phải có lương hay phụ cấp cho cán bộ. Số tiền cho từng người thực tế chả đáng là bao, nhưng cộng lại tất cả xã, phường, thôn buôn thì số tiền lại là hết sức lớn.

Người ta đã tổng kết: Muốn làm giàu trước hết phải làm đường. Giao thông ở Nhật phát triển ở mức độ rất cao nên đã góp phần rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội. Nhật Bản hiện có 173 sân bay, 23 577 km đường sắt (trong đó có 16 519km đường dành cho xe chạy bằng điện), 1 177 278 km đường bộ, đường thủy với 683 tầu biển (1000 GRT hay lớn hơn nữa) và rất nhiều tầu nhỏ hơn. Việt Nam có 23 sân bay nhưng chỉ có 2 sân bay quốc tế, chỉ mới có 2 600 km đường sắt (chưa có đường sắt cao tốc và chưa có đường tàu điện ngầm), 215 628 km đường bộ (chưa có đường cao tốc theo đúng nghĩa).

Chúng ta đã xem phim Oshin và thấy rõ sau chiến thanh thế giới (1945) nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá kiệt quệ đến mức nào. Vậy mà chỉ đến năm 1954 kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi và sau đó là thời kỳ phát triển cao độ (1955-1973). Từ 1974 đến nay tuy tốc độ phát triển có chậm hơn nhưng mọi mặt kinh tế- công nghiệp- tài chính- thương mại- dịch vụ- khoa học- kỹ thuật đều được đánh giá là ở mức đứng thứ nhì trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ) và với dự trữ ngoại tệ đứng vào hàng đầu thế giới. Ngày xưa Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã chủ trương phong trào Đông Du- hướng tới Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm. Ngày nay với xu thế hội nhập thế giới nhẽ nào chúng ta không bình tĩnh và khiêm tốn nhìn lại những bài học kinh nghiệm mà Nhật Bản đã thu được trong 60 năm qua. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú hơn, với điều kiện địa lý ít thiên tai bất khả kháng (núi lửa, động đất), với bản chất của một dân tộc không thua kém gì về trí tuệ, về tính cần cù lao động và chịu thương , chịu khó...chúng ta nhẽ nào không thể không có được những bước tiến nhảy vọt nếu như chúng ta biết đi ngay vào các mũi nhọn của khoa học và công nghệ , biết thực hiện cải cách hành chính để phát huy cao nhất tiềm lực của thiên nhiên và năng lực của toàn dân tộc ?

Mong sao có một cuộc thảo luận hết sức dân chủ và thẳng thắn: Chúng ta thua kém Nhật Bản ở những mặt nào và vì lý do gì?

Thưa các bạn,

Mỗi dân tộc đều có một cách đi vào tương lai riêng với tốc độ và mục tiêu khác nhau. Một số dân tộc với nền văn hóa của riêng mình đã lỗi nhịp, xa rời trục văn hóa lớn của nhân loại, không chịu tiếp thu những giá trị phổ quát chung cho phát triển, nên đã tụt hậu so với dân tộc khác hoặc sụp đổ như các nền văn hóa Maya, Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà...

Việt Nam, Nhật Bản là những nước châu Á từng trải qua những năm chiến tranh khốc liệt và luôn trăn trở, không ngủ quên đối với tương lai của dân tộc mình. Qua bài viết này của GS. Nguyễn Lân Dũng, chungta.com coi đây là một lời kêu gọi thống thiết với mỗi người Việt chúng ta với số phận và sức mạnh của đất nước.

Mỗi dân tộc đều có một cách đi vào tương lai riêng với tốc độ và mục tiêu khác nhau. Một số dân tộc với nền văn hóa của riêng mình đã lỗi nhịp, xa rời trục văn hóa lớn của nhân loại, không chịu tiếp thu những giá trị phổ quát chung cho phát triển, nên đã tụt hậu so với dân tộc khác hoặc sụp đổ như các nền văn hóa Maya, Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà...

Việt Nam, Nhật Bản là những nước châu Á từng trải qua những năm chiến tranh khốc liệt và luôn trăn trở, không ngủ quên đối với tương lai của dân tộc mình. Qua bài viết này của GS. Nguyễn Lân Dũng, chungta.com coi đây là một lời kêu gọi thống thiết với mỗi người Việt chúng ta với số phận và sức mạnh của đất nước.

GS Nguyễn Lân Dũng

(Chúng ta)
07:39 Unknown
Nước ta có 85 triệu người, đứng thứ 13 trong 200 nước trên thế giới, nếu kể cả Việt kiều là 88 triệu người. Theo tài liệu thì vào tháng 07-2007 dự kiến nước ta có 85.403.000 người! Như vậy chắc chắn không phải là nước nhỏ. Chúng ta có một lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã đánh bại chiến tranh xâm lược của hầu hết các cường quốc trên thế giới. Chắc chắn không phải là nước yếu. Thế hệ trẻ Việt Nam vứt vào môi trường Đại học nào ở nước ngoài đều học giỏi và rất nhiều người gốc Việt đang giữ các trọng trách tại các Trung tâm khoa học và công nghệ tiên tiến ở các nước phát triển . Chắc chắn trí tuệ dân mình chẳng chịu thua ai khi có điều kiện phát huy.

Nhưng chúng ta là nước nghèo và kém phát triển so với rất nhiều nước trên thế giới. GDP bình quân đầu người chỉ được có khoảng 640 USD (!). Mỗi năm hiện nay bình quân còn phải trả nợ 2 tỷ USD và càng ngày càng nhiều hơn nữa (!)
Thư
Do điều kiện công tác tôi có nhiều dịp sang Nhật Bản và lần nào tôi cũng không thể không tự hỏi: Vì sao nước Nhật có thể phát triển nhanh đến như vậy ?

Nước Nhật rộng gần 378 nghìn km2 , không hơn ta bao nhiêu (Việt Nam gần 330 nghìn km2) nhưng Nhật Bản gồm tới khoảng 6800 hòn đảo, trong đó chỉ có 5 đảo lớn, hơn nữa có tới 67% lãnh thổ là...núi! Đất trồng trọt thường xuyên chỉ chiếm 0,9% diện tích (!). Tỷ lệ này ở nước ta là 6,93% .Chúng ta không nghèo vì đất.

Nước Nhật có tới khoảng 80 núi lửa hoạt động (10% tổng số núi lửa hoạt động trên thế giới ). Nhật lại là nước có cấu tạo địa tầng không ổn định nên rất hay động đất. Các trận động đất lớn là: năm 1923 làm khoảng 90 nghìn người chết và 100 nghìn người bị thương, năm 1995 làm chết 6 nghìn người và 40 nghìn người bị thương... Trung bình mỗi năm Nhật có 4 cơn bão đổ vào và có lần sóng thần đổ vào Okushiri đã làm cho 230 người chết và bị thương. Ta không có những hoàn cảnh khó khăn như vậy .

Chữ Nhật khó đọc và khó học vì bên cạnh chữ phiên âm lại còn có tới 5 vạn chữ Hán (Kanji) viết nguyên dạng, mỗi người dân tối thiểu cũng phải thuộc 1945 chữ Hán (!). Lại còn chữ mềm (Hiragana) dùng để ghép âm tiếng Nhật , chữ cứng (Katakana) dùng để phiên âm tiếng nước ngoài. Chữ Quốc ngữ của ta đâu có khó như thế, người dân học 3 tháng đã đủ thoát nạn mù chữ !




Nước Nhật là một quốc gia đất chật, người đông và hầu như có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Dân số Nhật Bản là 127,46 triệu người (2006), đứng hàng thứ 7 trên thế giới , vậy mà vì diện tích nhỏ bé, lại nhiều núi non cho nên tuy theo lý thuyết thì bình quân mật độ dân cư là 335 người/km2 nhưng thực tế các khu dân cư có mật độ dân số rất cao. Người Nhật phải dành một nguồn ngoại tệ rất lớn (năm 2005 là 451,1 tỷ USD f.o.b.) để nhập khẩu nhiên liệu, kim loại, lương thực, thực phẩm... Nước ta có mật độ dân cư thấp hơn nhiều, là nước đứng thứ hai về xuất khẩu gạo, đứng thứ bậc cao trong xuất khẩu hải sản và nhiều sản phẩm cây công nghiệp (cà phê, điều, tiêu, cao su...), có nguồn dầu thô , khí thiên nhiên cùng nhiều khoáng sản quý giá khác đang được khai thác và còn có lượng dự trữ không nhỏ.

Nước Nhật phải đối đầu với tình trạng ô nhiễm hết sức nghiêm trọng . Mặc dầu Bộ luật Môi trường công bố năm 1967 đã làm giảm thiểu đi rõ rệt các bệnh có nguồn gốc từ các nhà máy (như bệnh hen suyễn do khí thải của công nghiệp lọc dầu, bệnh Mizumata do ô nhiễm thủy ngân, bệnh Itai-Itai do ô nhiễm cadmium...) nhưng đến nay vẫn chưa thể khắc phục được ô nhiễm từ các đám mây quang hóa, từ thủy triều đỏ (do sinh vật phù du phát triển quá mạnh khi tiếp nhận nhiều N và P trong nước thải) dẫn đến làm hạn chế sản lượng hải sản, các ô nhiễm do mưa acid gây thiệt hại cho mùa màng...

Vậy yếu tố nào làm cho nước Nhật nhanh chóng vươn lên từ đống tro tàn sau thế chiến II và hiện đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới?


Nhiều người Nhật nói với tôi: nguyên nhân chính là do đạt tới trình độ kỹ thuật cao nhờ trí thông minh và tinh thần lao động cần cù, nghiêm túc. Tôi cũng tin là như vậy.

Trong khi nhiều cường quốc lao vào công cuộc chạy đua vũ trang thì nước Nhật tập trung vào phát triển kinh tế. Độ độc lập ngoại thương (căn cứ vào tỷ lệ giữa tổng lượng mậu dịch (xuất nhập khẩu) trên tổng thu nhập quốc gia. Chỉ số này năm 1955 đã đạt tới 10%, nhưng từ năm 1955 đã tăng lên đến 20% và từ năm 1958 đến nay luôn giữ được ở mức 22-23%. Không có nước thứ hai nào trên thế giới đạt đến mức tăng trưởng như vậy. Năm 1960 GNP của Nhật chiếm 2,8% tổng sản lượng của thế giới, nhưng đến năm 1980 tỷ lệ này đã tăng lên đến 10,1% .GDP (tính theo PPP) của Nhật năm 2005 là 3 914 nghìn tỷ USD, trong khi GDP (tính theo PPP) của nước ta năm 2005 là 253,2 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của Nhật (f.o.b.)năm 2005 là 550,5 tỷ USD, trong khi của Việt Nam (f.o.b.)năm 2005 là 32,23 tỷ USD . Con đường công nghiệp hóa của Nhật phản ảnh rõ nét trong việc thu hẹp lại tỷ lệ nông dân. Nếu như năm 1960 còn có 26,8% dân số thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp thì đến năm 1992 tỷ lệ này chỉ còn 5,5%. Diện tích canh tác thu hẹp lại rất nhiều nhưng nhờ có cải tiến kỹ thuật mà năng suất nông nghiệp lại tăng rất nhanh. Dù sao thì nước Nhật đã chọn con đường không cần tự túc lương thực , thực phẩm mà đầu tư vào các ngành công nghiệp, trong đó có Công nghệ sinh học. Tôi không chỉ được đến làm việc tại những trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia hết sức hiện đại như NITE, RIKEN...mà còn vô cùng ngạc nhiên khi tiếp cận với các trung tâm Công nghệ sinh học dược phẩm của tư nhân với quy mô đầu tư và hiệu quả lớn hơn rất nhiều. Sản phẩm nông nghiệp dùng làm nguyên liệu để lên men các chủng vi sinh vật mang gen tái tổ hợp nhằm chế tạo ra dược phẩm thì giá trị tăng lên không hiểu là hàng nghìn hay hàng vạn lần? Chắc là còn cao hơn nữa rất nhiều (!)

Có thể nói dân chúng Nhật có cuộc sống rất sung túc khi GDP bình quân tính theo đầu người đã đạt đến 30 700 USD (2005) đứng thứ nhì thế giới. Tuổi thọ bình quân của người Nhật đứng vào hàng cao nhất thế giới (sau 60 năm mà tuổi thọ bình quân cả nam lẫn nữ đều tăng thêm ...30 tuổi (!).Tuổi thọ bình quân hiện nay với nam là 77,96, với nữ là 84,7 (2006) .

Sự tiến triển vượt bậc về trình độ khoa học và công nghệ không thể tách rời với các thành tựu về giáo dục. Giáo dục bắt buộc với bậc Tiểu học (6 năm) và Cấp II- gọi là Trung học (3 năm). Có thể học tiếp lên cấp III- gọi là Cao học (3 năm) hoặc vào thẳng các Trường chuyên nghiệp (5 năm). Gần 100% học sinh Nhật học tiếp cấp III sau đó nếu muốn chuyển sang Trường chuyên nghiệp chỉ cần học thêm 2 năm. Bậc học sau cấp III là Đại học (thường là 4 năm nhưng có trường chỉ 2 năm), bậc học mà ta gọi là Cao học thì Nhật gọi là Tu học. Sau bậc Thạc sĩ là bậc Tiến sĩ với trình độ tương đương với đẳng cấp quốc tế. Còn có các Trường dạy nghề (chỉ học 1 năm) và các Trường đặc biệt dành cho người khuyết tật. Ai cũng được học hành nhưng không phải ai cũng đổ xô vào việc có bằng được mảnh bằng Đại học. Có khoảng 48-50% học sinh cấp III vào học các Trường Đại học. Số còn lại chuyển sang học nghề và có tiền đồ cũng rất sáng sủa. Đã thi đỗ vào Đại học thi hầu như không có sinh viên nào không tốt nghiệp. Điều kiện nghiên cứu khoa học của thầy và trò ở các Trường Đại học là rất tốt.



Sự phát triển của giáo dục và khoa học- công nghệ ở Nhật được phản ánh một phần trên các giải Nobel. Có thể kể đến các giải Nobel dành cho các nhà khoa học Nhật Bản như Yukawa Hideki (Vật lý, 1949), Tomonaga Shin’ichiro (Vật lý, 1965), Esaki Reona (Vật lý,1973), Fukui Ken’Ichi (Hóa học, 1981), Tonegawa Susumu (Y học, 1987), Shirakawa Hideki (Hóa học, 2000), Noyori Ryoji (Hóa học, 2001), Masatoshi Koshiba (Vật lý, 2002), Koichi Tanaka (Hóa học, 2002). Trong Văn học có Kawabata Yasunari (1968), Oe Kenzaburo (1994). Ngoài ra còn có Nobel Hòa bình dành cho Thủ tướng Sato Eisaku (1974)...

Người Nhật chủ yếu làm việc trong các Công ty tư nhân. các Công ty này có truyền thống là tuyển dụng suốt đời và tạo được tâm lý Công ty là nhà của mình. Người Nhật nổi tiếng là làm việc nhiều . Tuy theo Luật lao động quy định mỗi tuần chỉ làm 5 ngày, mỗi ngày làm 8 tiếng nhưng giờ lao động ở Nhật thật sự là những giờ lao động nghiêm túc với kỷ luật rất tự giác.

Quan sát xã hội Nhật Bản, dù không được sâu sắc, nhưng theo tôi điều đáng học là việc tạo được điều kiện cho mọi người phát huy được hết năng lực của mình. Không có chuyện tiền lương không đủ sống nên đầu óc không tập trung hết mình vào trách nhiệm được giao như chuyện rất phổ biến ở nước ta. Tiền lương và tiền thưởng vừa theo thâm niên vừa theo năng lực và hiệu quả. Điều ấy làm cho ai nấy đều thấy cần gắn mình vào với Công ty hay đơn vị công tác và luôn tìm cách để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc được giao. Quản lý tài chính không quá phức tạp .Hầu như mọi thứ cần mua đều có ở các siêu thị (và các cửa hàng nhỏ phục vụ suốt ngày đêm). Tiêu pha chủ yếu bằng thẻ tín dụng, mua gì cũng được tính tiền (và thuế) qua máy tính nên khó có thể gian lận thương mại . Các cửa hàng khác hầu như chỉ là cửa hàng ăn và may mặc (vì ý thích của mọi người quá đa dạng).

Điều dễ thấy là lương công chức rất cao vì bộ máy hành chính rất gọn nhẹ. Một nước phát triển và đông dân như nước Nhật Bản mà chỉ có 9 bộ (!): bộ Tư pháp, bộ Ngoại giao, bộ Tài chính, bộ Giáo dục-Văn hóa-Khoa học (!), bộ Y tế- Phúc lợi, bộ Nông- lâm- ngư nghiệp, bộ Công nghiệp - Thương mại, bộ Quốc thổ-Giao thông, bộ Môi trường. Ngoài ra Thủ tướng chỉ còn bổ nhiệm thêm Bộ trưởng Tổng vụ, Bộ trưởng Ngân hàng, Trưởng ban Tổ chức Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Công an quốc gia ,Tổng tư lệnh Cục phòng vệ, Cục trưởng cục Khoa học -Kỹ thuật, Cục trưởng cục Kinh tế -Tài chính, Cục trưởng cục Cải cách hành chính.



Tôi đã có dịp giao thiệp với người phụ trách lĩnh vực Công nghệ sinh học trong Bộ Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản. Tôi không ngờ được ở vị trí quan trọng như vậy mà lại là một người còn rất trẻ, và tất nhiên là rất thạo chuyên môn. Làm việc với chuyên gia Nhật Bản phải theo một lịch trình chính xác hết sức về giờ giấc và thường với cường độ khá căng thẳng. Hiệu quả cao của công việc tất yếu phải lĩnh lương cao. Nhiều người cho rằng nước ta hiện nay có tình trạng không làm việc thật sự nên không có lương thật sự. Tôi nghĩ rằng muốn có lương thật sự thì phải rà soát lại từng cương vị và trách nhiệm công tác của mỗi người để không phải gánh mãi một biên chế quá khổng lồ và rất kém hiệu quả như hiện nay. Nghe nói ngày xưa ở nước ta bình quân 3000 người mới có một người ăn cơm Vua (!). Nếu theo tỷ lệ này thì nhẽ ra hiện nay số người ăn lương của Chính phủ không được quá 28 000 người (!). Không hiểu số người thuộc biên chế ăn lương của ngân sách trong cả nước hiện nay là gấp bao nhiêu lần so với con số này? Số người hưởng lương và phụ cấp ngay ở một xã hiện nay cũng thường không dưới vài chục người (!), hiện nay cấp Thôn cũng đang đòi hỏi phải có lương hay phụ cấp cho cán bộ. Số tiền cho từng người thực tế chả đáng là bao, nhưng cộng lại tất cả xã, phường, thôn buôn thì số tiền lại là hết sức lớn.

Người ta đã tổng kết: Muốn làm giàu trước hết phải làm đường. Giao thông ở Nhật phát triển ở mức độ rất cao nên đã góp phần rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội. Nhật Bản hiện có 173 sân bay, 23 577 km đường sắt (trong đó có 16 519km đường dành cho xe chạy bằng điện), 1 177 278 km đường bộ, đường thủy với 683 tầu biển (1000 GRT hay lớn hơn nữa) và rất nhiều tầu nhỏ hơn. Việt Nam có 23 sân bay nhưng chỉ có 2 sân bay quốc tế, chỉ mới có 2 600 km đường sắt (chưa có đường sắt cao tốc và chưa có đường tàu điện ngầm), 215 628 km đường bộ (chưa có đường cao tốc theo đúng nghĩa).

Chúng ta đã xem phim Oshin và thấy rõ sau chiến thanh thế giới (1945) nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá kiệt quệ đến mức nào. Vậy mà chỉ đến năm 1954 kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi và sau đó là thời kỳ phát triển cao độ (1955-1973). Từ 1974 đến nay tuy tốc độ phát triển có chậm hơn nhưng mọi mặt kinh tế- công nghiệp- tài chính- thương mại- dịch vụ- khoa học- kỹ thuật đều được đánh giá là ở mức đứng thứ nhì trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ) và với dự trữ ngoại tệ đứng vào hàng đầu thế giới. Ngày xưa Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã chủ trương phong trào Đông Du- hướng tới Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm. Ngày nay với xu thế hội nhập thế giới nhẽ nào chúng ta không bình tĩnh và khiêm tốn nhìn lại những bài học kinh nghiệm mà Nhật Bản đã thu được trong 60 năm qua. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú hơn, với điều kiện địa lý ít thiên tai bất khả kháng (núi lửa, động đất), với bản chất của một dân tộc không thua kém gì về trí tuệ, về tính cần cù lao động và chịu thương , chịu khó...chúng ta nhẽ nào không thể không có được những bước tiến nhảy vọt nếu như chúng ta biết đi ngay vào các mũi nhọn của khoa học và công nghệ , biết thực hiện cải cách hành chính để phát huy cao nhất tiềm lực của thiên nhiên và năng lực của toàn dân tộc ?

Mong sao có một cuộc thảo luận hết sức dân chủ và thẳng thắn: Chúng ta thua kém Nhật Bản ở những mặt nào và vì lý do gì?

Thưa các bạn,

Mỗi dân tộc đều có một cách đi vào tương lai riêng với tốc độ và mục tiêu khác nhau. Một số dân tộc với nền văn hóa của riêng mình đã lỗi nhịp, xa rời trục văn hóa lớn của nhân loại, không chịu tiếp thu những giá trị phổ quát chung cho phát triển, nên đã tụt hậu so với dân tộc khác hoặc sụp đổ như các nền văn hóa Maya, Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà...

Việt Nam, Nhật Bản là những nước châu Á từng trải qua những năm chiến tranh khốc liệt và luôn trăn trở, không ngủ quên đối với tương lai của dân tộc mình. Qua bài viết này của GS. Nguyễn Lân Dũng, chungta.com coi đây là một lời kêu gọi thống thiết với mỗi người Việt chúng ta với số phận và sức mạnh của đất nước.

Mỗi dân tộc đều có một cách đi vào tương lai riêng với tốc độ và mục tiêu khác nhau. Một số dân tộc với nền văn hóa của riêng mình đã lỗi nhịp, xa rời trục văn hóa lớn của nhân loại, không chịu tiếp thu những giá trị phổ quát chung cho phát triển, nên đã tụt hậu so với dân tộc khác hoặc sụp đổ như các nền văn hóa Maya, Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà...

Việt Nam, Nhật Bản là những nước châu Á từng trải qua những năm chiến tranh khốc liệt và luôn trăn trở, không ngủ quên đối với tương lai của dân tộc mình. Qua bài viết này của GS. Nguyễn Lân Dũng, chungta.com coi đây là một lời kêu gọi thống thiết với mỗi người Việt chúng ta với số phận và sức mạnh của đất nước.

GS Nguyễn Lân Dũng

(Chúng ta)

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Vài lời của người sưu tầm: Bài báo dưới đây của Phan Khôi, tôi sưu tầm và lưu giữ riêng đã 6-7 năm nay; để đưa tới bạn đọc dưới dạng sách in, hẳn phải chờ dăm năm nữa. Nhận thấy bài này thuộc số những bài cần được biết rộng càng sớm càng hay, tôi rút nó từ bộ sưu tập đang chuẩn bị ra giới thiệu với những ai quan tâm. - Lại Nguyên Ân


Lâu nay thấy trên các báo chí có nhiều tác giả hay dùng đến hai chữ “phong kiến”. Đại khái như trong câu nầy: “Người mình chịu áp bách dưới chế độ phong kiến mấy ngàn năm”, hay như trong câu nầy: “Ngày nay chúng ta bắt đầu thoát ly khỏi chế độ phong kiến”.

Ấy là một sự lạ! Vì theo lịch sử nước ta, từ xưa đến nay chưa hề có chế độ phong kiến, thì người mình bởi đâu chịu nó áp bách, chúng ta ngày nay việc gì phải thoát ly?

Người mình có chịu áp bách, nhưng áp bách bởi cái gì kia; chúng ta rồi phải thoát ly, nhưng thoát ly cái gì kia, chớ đâu có phải cái chế độ phong kiến?

Vậy trước hết ta nên hỏi chế độ phong kiến là cái chế độ gì; rồi xét thử phải chăng nó từng nhiều lần hay lấy một lần còn có trên lịch sử chúng ta.

Đây tôi không rồi đâu nhắc lại các tầng thứ của sự tổ chức xã hội loài người theo như xã hội học; tôi chỉ cắt nghĩa cho biết thế nào gọi là phong kiến.

Trên lịch sử Á Đông vẫn có cái chế độ ấy. Đời xưa, cuộc phong kiến còn có trên lịch sử Trung Quốc đến hàng mấy ngàn năm.

Thuở trước, các bực bá giả khi chinh phục và thống nhứt được một nước rồi, lên ngôi vua, tự xưng là thiên tử, và phong cho các con, em, cháu, mỗi người một phần đất bởi trong nước ấy chia ra, cũng làm vua, mà gọi là chư hầu: ấy tức là cái chế độ phong kiến bắt đầu có.

Những vua chư hầu ấy chia ra đẳng cấp theo năm tước: công, hầu, bá, tử, nam; đất nước lớn hay nhỏ cũng tuỳ từng đẳng cấp mà có khác.

Lại không những con, em, cháu được phong mà cho đến các kẻ bề tôi có công cũng được phong: hạng trên kêu là những chư hầu đồng tánh (cùng họ), hạng dưới kêu là những chư hầu dị tánh (khác họ).

Hết thảy các nước chư hầu đều cai trị dân mình, hưởng huê lợi (tức là thuế) đất mình; nhưng mỗi năm phải theo lệ nạp cống phú cho thiên tử; và mọi việc lớn trong nước phải bẩm mạng cùng thiên tử; khi có giặc, chư hầu phải xuất binh giúp thiên tử mà đánh dẹp.

Nước ta có câu tục ngữ “Dùi đánh đục, đục đánh săng”, nếu mượn đem mà chú thích cho cái chế độ nầy thì đúng lắm: Theo chế độ phong kiến, thiên tử đè lên trên chư hầu, chư hầu đè lên trên bình dân, ấy là sự tự nhiên.

Cho nên trong sử hay ca tụng cái cảnh thái bình hồi đời phong kiến là phải lắm: Lúc bấy giờ bình dân bị cho đến hai cái sức mạnh đè lên, không cựa quậy nổi, không vùng vẫy nổi, thành ra trong xã hội được bình yên vô sự. Nhưng hạng bình dân thì thật khổ, khổ mà không ai biết cho.

Một số khu chợ nhỏ lẻ ở Hà Nội cuối thế kỷ 19
Trong sử Tàu, trước Giáng sanh [1] vài ba ngàn năm, trong thời kỳ đó hầu hết thiệt hành cái chế độ phong kiến.

Trải qua Đường, Ngu, Hạ, Thương, Châu, ngót hai ngàn năm phong kiến mà đời sau cho là thuở thạnh trị có một không hai. Đến nhà Tần mới phá bỏ phép ấy, rồi sau đến nhà Hán lại phục lại, nhưng cách sắp đặt có khác xưa.

Trái với cái chế độ phong kiến là chế độ quận huyện. Nhà Tần làm theo chế độ quận huyện.

Quận huyện nghĩa là chia trong nước ra làm từng quận từng huyện, rồi thiên tử đặt quan ra cai trị chớ không đặt chư hầu. Làm thế này thì bình dân có dịp trực tiếp với thiên tử chớ không bị các vua chư hầu làm ngăn cách ra như phép phong kiến. Thế cũng đáng cho là một sự tấn bộ trong cách tổ chức vậy.

Cái chế độ phong kiến là thế, và đại ý của nó là thế. Nhưng xét xem trong lịch sử nước ta, cái chế độ ấy chưa hề thấy bao giờ.

Trong sử Ngoại kỷ [2] nói vua vua Hùng Vương chia nước ra 15 bộ, nhưng cũng nói đặt quan cai trị, chớ không nói để phong con, em, cháu hay là bề tôi có công.

Kể từ Đinh, Lê về sau, nước ta mới thành lập hẳn một nước, song cũng chưa hề đặt ra hay noi theo cái chế độ phong kiến.

Triều thì chia nước ra từng lô, triều thì chia nước ra từng xứ, triều thì chia nước ra từng trấn, triều thì chia nước ra từng tỉnh, nhưng thảy đều đặt quan cai trị, thay quyền trung ương mà thống ngự thần dân. Nói tóm một lời, nước ta từ hồi lập quốc về sau, sự tổ chức về chính trị theo lối quận huyện chớ không theo lối phong kiến.

Trải qua các triều vua, vẫn có dùng năm tước công, hầu, bá, tử, nam mà phong cho các bề tôi đồng tánh hoặc dị tánh, lại có phong đến tước vương nữa. Nhưng những người chịu phong tước ấy có danh mà không có thiệt, chẳng hề có ai được đất phong lớn, được hưởng cả huê lợi, được cai trị dân như các vua chư hầu đời xưa dưới chế độ phong kiến.

Đại để mỗi người được phong tước thì vua tuỳ từng đẳng cấp mà ban cho ruộng đất ít nhiều, gọi là “thái địa”. Thái địa ấy tự người được phong muốn chọn nơi nào thì chọn, và được truyền tử lưu tôn như đất tư của mình. Thái địa ít thì chừng mấy mẫu, nhiều thì chừng mấy chục mẫu, nhiều lắm cũng đến choán lấy mấy làng là cùng, chớ không khi nào được đến một tỉnh hay một trấn mà có thể làm một nước nhỏ được. Vả lại người được phong chỉ có quyền về thổ địa mà không có quyền về nhân dân ở trên thổ địa ấy; bao nhiêu người dân từ trước lập nghiệp trên thái địa cũng vẫn trực tiếp chịu quyền cai trị của nhà vua.

Coi như Lê Phụng Hiểu được phong hầu, vua truyền cho ông ta chọn lấy thái địa, ông xin trèo lên một hòn núi, cầm dao phóng xuống, dao rơi đến đâu thì ông nhận đất đến đó; rồi rốt lại, ông được một khoảnh đất chừng 50 mẫu, và ông ăn lấy thuế đó, mà trong sử người ta quen gọi là “thuế chước đao”. Đó là cái chứng cớ tỏ ra rằng nước ta từ xưa nhà vua có lấy đất phong cho công thần, nhưng phong một cách khác, chớ không theo chế độ phong kiến.

Chuyện gần đây là chuyện trào Nguyễn. Các ông thân vương vẫn được dùng một huyện mà phong cho, như ông Tùng Thiện vương, tức là ông được phong về huyện Tùng Thiện ở tỉnh Sơn Tây vậy. Dầu vậy, các ông ấy chỉ có cái danh vậy thôi, không phải ông Tùng Thiện vương được ra làm chúa cai trị huyện Tùng Thiện hay là đem cả thuế má huyện ấy mỗi năm nhập vào túi mình, vì ông vẫn ở tại kinh đô Huế trong thời đó và mỗi tháng cũng cứ lãnh lương trong kho Nội vụ.

Tôi biết ở miền tôi gần nay có một ông quan được phong tước tử. Ông chọn ngay sáu mẫu đất ở làng cạnh làng ông làm thái địa, rồi đất ấy lưu truyền đến đời cháu ông ngày nay còn hưởng thọ, coi như ruộng tư, chỉ không được đem bán cho ai.

Có phong tước, có thái địa, nhưng người được phong không hưởng các quyền cai trị dân chúng ở trong thái địa của mình: điều đó làm cho phân biệt với chế độ phong kiến.

Bởi đó nói rằng nước ta xưa nay không có chế độ phong kiến, cái chế độ ấy chưa hề xuất hiện trên lịch sử xứ ta.

Thế thì các nhà xã hội học An Nam (?) làm sao lại nhắm mắt nói liều rằng “người mình chịu áp bách dưới chế độ phong kiến” hay là “chúng ta ngày nay bắt đầu thoát ly chế độ phong kiến” được?

Chế độ phong kiến ở bên Tàu có, ở bên Nhựt Bổn có, ở bên Tây có; song có thể nào lấy cớ mấy xứ ấy có chế độ phong kiến mà buộc cho xứ ta từ xưa cũng phải có chế độ phong kiến?

Trừ ra hai chữ “phong kiến” có nghĩa gì khác mà kẻ viết bài nầy chưa hiểu thì thôi; bằng chỉ có một nghĩa như đã giải trên kia thì nó chẳng có dịp nào dùng mà chỉ một cách tổ chức về chánh trị trong nước nầy về thời quá vãng hết, thật chẳng có dịp nào hết.

Ở trước mặt một người thuộc quốc sử mà bảo rằng nước ta từ xưa có chế độ phong kiến, người mình từng bị áp bách bởi nó, ngày nay mới bắt đầu thoát ly, thì phải cho phép người ấy trợn mắt rùng vai, lấy làm lạ một chút, mới là phải đạo công bình.

Nếu nói rằng chữ “phong kiến” nầy dùng theo nghĩa rộng: vua ở trên chia quyền cho các ông tổng đốc các tỉnh và cũng chia lợi cho nhau luôn, như thế cũng không khác gì cái chế độ đặt chư hầu bên Tàu thuở xưa, – nếu nói vậy thì dùng chữ gì cũng được cả, ai còn cãi với ai làm gì cho phiền?

Tôi tưởng, tốt hơn là, ta nghiên cứu xã hội học [3] , ta theo nó, mà ta cũng phải để mắt tới quốc sử của ta. Không có lẽ nào câu chuyện xứ ta vốn không có mà bịa ra nói có, rồi cứ theo đó mà đi tìm cái kết luận ở trong mây mù khói ngút, không ai có thể kiểm soát lại được!

Tác giả: Phan Khôi 

-----------------

[1] Giáng sanh nói ở đây tức là Thiên Chúa giáng sinh, trỏ năm sinh Jesus Christ, mà lịch phương Tây dùng làm điểm khởi đầu Kỷ nguyên chúng ta (hoặc Công nguyên); cách tính này hiện thông dụng toàn thế giới (một sự kiện lịch sử nào đó, theo niên biểu này, sẽ được ghi bằng năm thuộc Công nguyên hoặc bao nhiêu năm trước Công nguyên).
[2] Sử Ngoại kỷ nói ở đây hẳn là trỏ phần Ngoại kỷ của bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
[3] Nghiên cứu xã hội học mà tác giả nói ở đây, ý nói việc nghiên cứu cấu trúc, tổ chức xã hội trong nghiên cứu sử học nói chung.

Lại Nguyên Ân sưu tầm, hiệu đính, giới thiệu

Nguồn: Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 268 (29 Novembre 1934)

(Chúng ta)
23:30 Unknown
Vài lời của người sưu tầm: Bài báo dưới đây của Phan Khôi, tôi sưu tầm và lưu giữ riêng đã 6-7 năm nay; để đưa tới bạn đọc dưới dạng sách in, hẳn phải chờ dăm năm nữa. Nhận thấy bài này thuộc số những bài cần được biết rộng càng sớm càng hay, tôi rút nó từ bộ sưu tập đang chuẩn bị ra giới thiệu với những ai quan tâm. - Lại Nguyên Ân


Lâu nay thấy trên các báo chí có nhiều tác giả hay dùng đến hai chữ “phong kiến”. Đại khái như trong câu nầy: “Người mình chịu áp bách dưới chế độ phong kiến mấy ngàn năm”, hay như trong câu nầy: “Ngày nay chúng ta bắt đầu thoát ly khỏi chế độ phong kiến”.

Ấy là một sự lạ! Vì theo lịch sử nước ta, từ xưa đến nay chưa hề có chế độ phong kiến, thì người mình bởi đâu chịu nó áp bách, chúng ta ngày nay việc gì phải thoát ly?

Người mình có chịu áp bách, nhưng áp bách bởi cái gì kia; chúng ta rồi phải thoát ly, nhưng thoát ly cái gì kia, chớ đâu có phải cái chế độ phong kiến?

Vậy trước hết ta nên hỏi chế độ phong kiến là cái chế độ gì; rồi xét thử phải chăng nó từng nhiều lần hay lấy một lần còn có trên lịch sử chúng ta.

Đây tôi không rồi đâu nhắc lại các tầng thứ của sự tổ chức xã hội loài người theo như xã hội học; tôi chỉ cắt nghĩa cho biết thế nào gọi là phong kiến.

Trên lịch sử Á Đông vẫn có cái chế độ ấy. Đời xưa, cuộc phong kiến còn có trên lịch sử Trung Quốc đến hàng mấy ngàn năm.

Thuở trước, các bực bá giả khi chinh phục và thống nhứt được một nước rồi, lên ngôi vua, tự xưng là thiên tử, và phong cho các con, em, cháu, mỗi người một phần đất bởi trong nước ấy chia ra, cũng làm vua, mà gọi là chư hầu: ấy tức là cái chế độ phong kiến bắt đầu có.

Những vua chư hầu ấy chia ra đẳng cấp theo năm tước: công, hầu, bá, tử, nam; đất nước lớn hay nhỏ cũng tuỳ từng đẳng cấp mà có khác.

Lại không những con, em, cháu được phong mà cho đến các kẻ bề tôi có công cũng được phong: hạng trên kêu là những chư hầu đồng tánh (cùng họ), hạng dưới kêu là những chư hầu dị tánh (khác họ).

Hết thảy các nước chư hầu đều cai trị dân mình, hưởng huê lợi (tức là thuế) đất mình; nhưng mỗi năm phải theo lệ nạp cống phú cho thiên tử; và mọi việc lớn trong nước phải bẩm mạng cùng thiên tử; khi có giặc, chư hầu phải xuất binh giúp thiên tử mà đánh dẹp.

Nước ta có câu tục ngữ “Dùi đánh đục, đục đánh săng”, nếu mượn đem mà chú thích cho cái chế độ nầy thì đúng lắm: Theo chế độ phong kiến, thiên tử đè lên trên chư hầu, chư hầu đè lên trên bình dân, ấy là sự tự nhiên.

Cho nên trong sử hay ca tụng cái cảnh thái bình hồi đời phong kiến là phải lắm: Lúc bấy giờ bình dân bị cho đến hai cái sức mạnh đè lên, không cựa quậy nổi, không vùng vẫy nổi, thành ra trong xã hội được bình yên vô sự. Nhưng hạng bình dân thì thật khổ, khổ mà không ai biết cho.

Một số khu chợ nhỏ lẻ ở Hà Nội cuối thế kỷ 19
Trong sử Tàu, trước Giáng sanh [1] vài ba ngàn năm, trong thời kỳ đó hầu hết thiệt hành cái chế độ phong kiến.

Trải qua Đường, Ngu, Hạ, Thương, Châu, ngót hai ngàn năm phong kiến mà đời sau cho là thuở thạnh trị có một không hai. Đến nhà Tần mới phá bỏ phép ấy, rồi sau đến nhà Hán lại phục lại, nhưng cách sắp đặt có khác xưa.

Trái với cái chế độ phong kiến là chế độ quận huyện. Nhà Tần làm theo chế độ quận huyện.

Quận huyện nghĩa là chia trong nước ra làm từng quận từng huyện, rồi thiên tử đặt quan ra cai trị chớ không đặt chư hầu. Làm thế này thì bình dân có dịp trực tiếp với thiên tử chớ không bị các vua chư hầu làm ngăn cách ra như phép phong kiến. Thế cũng đáng cho là một sự tấn bộ trong cách tổ chức vậy.

Cái chế độ phong kiến là thế, và đại ý của nó là thế. Nhưng xét xem trong lịch sử nước ta, cái chế độ ấy chưa hề thấy bao giờ.

Trong sử Ngoại kỷ [2] nói vua vua Hùng Vương chia nước ra 15 bộ, nhưng cũng nói đặt quan cai trị, chớ không nói để phong con, em, cháu hay là bề tôi có công.

Kể từ Đinh, Lê về sau, nước ta mới thành lập hẳn một nước, song cũng chưa hề đặt ra hay noi theo cái chế độ phong kiến.

Triều thì chia nước ra từng lô, triều thì chia nước ra từng xứ, triều thì chia nước ra từng trấn, triều thì chia nước ra từng tỉnh, nhưng thảy đều đặt quan cai trị, thay quyền trung ương mà thống ngự thần dân. Nói tóm một lời, nước ta từ hồi lập quốc về sau, sự tổ chức về chính trị theo lối quận huyện chớ không theo lối phong kiến.

Trải qua các triều vua, vẫn có dùng năm tước công, hầu, bá, tử, nam mà phong cho các bề tôi đồng tánh hoặc dị tánh, lại có phong đến tước vương nữa. Nhưng những người chịu phong tước ấy có danh mà không có thiệt, chẳng hề có ai được đất phong lớn, được hưởng cả huê lợi, được cai trị dân như các vua chư hầu đời xưa dưới chế độ phong kiến.

Đại để mỗi người được phong tước thì vua tuỳ từng đẳng cấp mà ban cho ruộng đất ít nhiều, gọi là “thái địa”. Thái địa ấy tự người được phong muốn chọn nơi nào thì chọn, và được truyền tử lưu tôn như đất tư của mình. Thái địa ít thì chừng mấy mẫu, nhiều thì chừng mấy chục mẫu, nhiều lắm cũng đến choán lấy mấy làng là cùng, chớ không khi nào được đến một tỉnh hay một trấn mà có thể làm một nước nhỏ được. Vả lại người được phong chỉ có quyền về thổ địa mà không có quyền về nhân dân ở trên thổ địa ấy; bao nhiêu người dân từ trước lập nghiệp trên thái địa cũng vẫn trực tiếp chịu quyền cai trị của nhà vua.

Coi như Lê Phụng Hiểu được phong hầu, vua truyền cho ông ta chọn lấy thái địa, ông xin trèo lên một hòn núi, cầm dao phóng xuống, dao rơi đến đâu thì ông nhận đất đến đó; rồi rốt lại, ông được một khoảnh đất chừng 50 mẫu, và ông ăn lấy thuế đó, mà trong sử người ta quen gọi là “thuế chước đao”. Đó là cái chứng cớ tỏ ra rằng nước ta từ xưa nhà vua có lấy đất phong cho công thần, nhưng phong một cách khác, chớ không theo chế độ phong kiến.

Chuyện gần đây là chuyện trào Nguyễn. Các ông thân vương vẫn được dùng một huyện mà phong cho, như ông Tùng Thiện vương, tức là ông được phong về huyện Tùng Thiện ở tỉnh Sơn Tây vậy. Dầu vậy, các ông ấy chỉ có cái danh vậy thôi, không phải ông Tùng Thiện vương được ra làm chúa cai trị huyện Tùng Thiện hay là đem cả thuế má huyện ấy mỗi năm nhập vào túi mình, vì ông vẫn ở tại kinh đô Huế trong thời đó và mỗi tháng cũng cứ lãnh lương trong kho Nội vụ.

Tôi biết ở miền tôi gần nay có một ông quan được phong tước tử. Ông chọn ngay sáu mẫu đất ở làng cạnh làng ông làm thái địa, rồi đất ấy lưu truyền đến đời cháu ông ngày nay còn hưởng thọ, coi như ruộng tư, chỉ không được đem bán cho ai.

Có phong tước, có thái địa, nhưng người được phong không hưởng các quyền cai trị dân chúng ở trong thái địa của mình: điều đó làm cho phân biệt với chế độ phong kiến.

Bởi đó nói rằng nước ta xưa nay không có chế độ phong kiến, cái chế độ ấy chưa hề xuất hiện trên lịch sử xứ ta.

Thế thì các nhà xã hội học An Nam (?) làm sao lại nhắm mắt nói liều rằng “người mình chịu áp bách dưới chế độ phong kiến” hay là “chúng ta ngày nay bắt đầu thoát ly chế độ phong kiến” được?

Chế độ phong kiến ở bên Tàu có, ở bên Nhựt Bổn có, ở bên Tây có; song có thể nào lấy cớ mấy xứ ấy có chế độ phong kiến mà buộc cho xứ ta từ xưa cũng phải có chế độ phong kiến?

Trừ ra hai chữ “phong kiến” có nghĩa gì khác mà kẻ viết bài nầy chưa hiểu thì thôi; bằng chỉ có một nghĩa như đã giải trên kia thì nó chẳng có dịp nào dùng mà chỉ một cách tổ chức về chánh trị trong nước nầy về thời quá vãng hết, thật chẳng có dịp nào hết.

Ở trước mặt một người thuộc quốc sử mà bảo rằng nước ta từ xưa có chế độ phong kiến, người mình từng bị áp bách bởi nó, ngày nay mới bắt đầu thoát ly, thì phải cho phép người ấy trợn mắt rùng vai, lấy làm lạ một chút, mới là phải đạo công bình.

Nếu nói rằng chữ “phong kiến” nầy dùng theo nghĩa rộng: vua ở trên chia quyền cho các ông tổng đốc các tỉnh và cũng chia lợi cho nhau luôn, như thế cũng không khác gì cái chế độ đặt chư hầu bên Tàu thuở xưa, – nếu nói vậy thì dùng chữ gì cũng được cả, ai còn cãi với ai làm gì cho phiền?

Tôi tưởng, tốt hơn là, ta nghiên cứu xã hội học [3] , ta theo nó, mà ta cũng phải để mắt tới quốc sử của ta. Không có lẽ nào câu chuyện xứ ta vốn không có mà bịa ra nói có, rồi cứ theo đó mà đi tìm cái kết luận ở trong mây mù khói ngút, không ai có thể kiểm soát lại được!

Tác giả: Phan Khôi 

-----------------

[1] Giáng sanh nói ở đây tức là Thiên Chúa giáng sinh, trỏ năm sinh Jesus Christ, mà lịch phương Tây dùng làm điểm khởi đầu Kỷ nguyên chúng ta (hoặc Công nguyên); cách tính này hiện thông dụng toàn thế giới (một sự kiện lịch sử nào đó, theo niên biểu này, sẽ được ghi bằng năm thuộc Công nguyên hoặc bao nhiêu năm trước Công nguyên).
[2] Sử Ngoại kỷ nói ở đây hẳn là trỏ phần Ngoại kỷ của bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
[3] Nghiên cứu xã hội học mà tác giả nói ở đây, ý nói việc nghiên cứu cấu trúc, tổ chức xã hội trong nghiên cứu sử học nói chung.

Lại Nguyên Ân sưu tầm, hiệu đính, giới thiệu

Nguồn: Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 268 (29 Novembre 1934)

(Chúng ta)
tin mới du lịch cô tô tin mới thiết bị camera cửa lưới chống muỗi cửa lưới chống muỗi tự cuốn thi công nội thất thiết kế nội thất loa đám cưới nhà nghỉ cô tô âm thanh hội trường báo online phiếu giảm giá gai goi ha noi gai goi sai gon gai goi cao cap gai goi cao cap ha noi gái gọi trần duy hưng gái gọi mỹ đình gái gọi kim liên chùa bộc danh sách gái gọi gái gọi cao cấp hà nội gái gọi sài gòn gái gọi hà nội gái gọi hà nội